Tiền Truyện Côn Sơn Ngọc – Đàm Thiên Âm
Chương 3: 3: Ảo Ảnh
Trưa hôm đó, Đoan Ngọ vác một cuộn thảm dài hơn người, xiêu xiêu vẹo vẹo ra khỏi cửa thôn.
Nhóm người Yến Tử Kinh đi từ biển về đất liền, đi về phía Tây dọc theo con đường tơ lụa ra khỏi Dương Quan.
Tám ngàn dặm đường, đồng hành cùng trăng và mây, đối với Đoan Ngọ mà nói chẳng khác gì buổi lễ rửa tội đầy bụi và nắng nóng.
Ngoài việc buôn bán nô lệ, Yến Tử Kinh còn bán những bảo vật khác.
Sau khi xuyên qua Tây Vực theo đường cũ, tên đó không đến chợ dành riêng cho thương nhân để mua hàng, mà phái A Thường và những người khác thuê một chiếc xe lừa địa phương, nhờ phu xe dẫn đường đến thôn làng để mua.
Tấm thảm trên lưng Đoan Ngọ là mua được từ tay một góa phụ làm nghề dệt thảm.
Nhìn dáng vẻ hớn ha hớn hở của A Thường, Đoan Ngọ đoán tên đó lão phu lại mua được giá hời rồi.
Không biết có phải Yến Tử Kinh cố ý trừng phạt Đoan Ngọ không mà những nữ nô lệ khác đều ngồi rảnh rỗi trong phòng, chỉ có mình cô bản tọa phải chạy việc vặt cùng người hầu.
Đoan Ngọ đổ mồ hôi đầm đìa, cắn răng im hơi lặng tiếng.
Xe lừa chòng chành lên dốc, A Thương dòm cô bản tọa, rồi đưa tay ra: “Hôm nay thu mua hàng xong hết rồi, dỡ đồ đưa lên đây đi.”
Đoan Ngọ cúi người, nắm lấy thành sau xe nhảy lên.
Nữ nhân ấy kéo khăn trùm đầu, ngồi giữa đống vải lụa.
A Thường giống như còn nhiều lời muốn nói, nhưng nhìn vào đôi mắt đen đang cố chấp nhìn chằm chằm mình, hắn bản vương bản vương lại không nói ra được.
Một bầy dê đi tới, phu xe tấp vào lề đường.
Hàng thánh liễu nở rộ bên đường, tỏa ra hương thơm ngát, những dải hoa rủ xuống đỏ như son.
A Thường dùng dao chặt một cành liễu, đưa cho nàng bản tọa, nói: “Loài cây này chỉ mọc ở sa mạc, bền bỉ một cách lạ thường, có thể dùng làm roi ngựa.”
Đoan Ngọ yên lặng nhận lấy.
A Thường ấp úng: “Lão phu…!các ngươi lão phu…!đi Hòa Điền, phải băng qua sa mạc lớn nhất.”
Đoan Ngọ “ừ” một tiếng, tuy cùng A Thường đi nhận hàng nhưng nàng ta đây vẫn luôn đề phòng đám tay sai của Yến Tử Kinh.
Xung quanh là tiếng dê kêu, tiếng chim hót, tiếng la hét, tiếng roi quất, chồng chéo lên nhau.
A Thường thả cành liễu lên váy Đoan Ngọ, rồi ôm đầu gối nói: “Tối nay, bản vương có chuyện muốn nói với đối phương…!Bản vương gọi thì đối phương ra ngoài.”
Đoan Ngọ vội cụp mi xuống, cầm lấy cành liễu đỏ, đập đập xuống đất.
Cô ấy vốn dĩ không tin tưởng A Thường.
Nữ nhân ấy không biết A Thường muốn nói gì.
Nhưng đang ở ngay dưới mí mắt của Yến Tử Kinh, nếu ôm ảo tưởng thì đúng là ngu ngốc.
Đến dịch trạm, A Thường ngay lập tức sai người khiêng hàng xuống.
Đoan Ngọ lê đôi chân nặng như đeo chì chậm rãi đi về phía căn phòng của nô lệ.
Yến Tử Kinh mặc áo bào xám ngồi giữa sân, yên lặng nghe một ông lão kể chuyện.
Những người cưỡi lạc đà treo lên mặt biểu cảm đờ đẫn, lặng lẽ xếp hàng sau lưng gã như những thây ma.
Đoan Ngọ vừa vào phòng, cửa ngay lập tức được khóa lại.
Hai nữ nô lệ quỳ trên giường, nhìn ra ngoài tấm giấy dán cửa sổ bị rách.
Những nữ nô lệ khác đang chia nước và túi trên bàn.
Mấy ngày nay, họ thấy Đoan Ngọ phải “lao dịch khổ sai” thì luôn xa lánh cô ấy.
Đoan Ngọ cũng không để ý, đứng trong góc rung người phủi bụi.
Chờ cho đến khi những nữ nô lệ kia ăn xong, nàng ta đây mới đi tới, gom lại tất cả đồ ăn thừa, từng miếng nuốt xuống.
Nữ nhân ấy không uống nước đựng trong chiếc bình đất trên bàn mà đi đến bên chum, dùng hai tay uống nước.
Mọi người cười châm biếm.
Có người nói: “Nước sạch ở trên bàn, sao không uống? Giống như con mèo vậy.”
“Phải nói cô ta đây ta đây giống như chó con mới đúng, lẽo đẽo chạy theo xe của nam nhân!”
“Chắc là nàng bản tọa bản tọa sống thô lỗ từ nhỏ quen rồi, không biết trong nước này có trộn bột ngọc trai đâu nhỉ?”
“Căn cơ nữ nhân ấy lão phu kém vậy, ăn ngọc trai cũng vô ích.
Đứa trẻ bẩn thỉu như vầy, ai muốn đưa về nhà chứ?”
Mấy người họ cười lớn.
Đoan Ngọ nghĩ: Lúc ta đây chạm vào ngọc trai, các đối phương vẫn còn đang ch** n**c mũi ấy.
Tuy bột ngọc trai có thể khiến nữ nhân có một làn da đẹp, nhưng ngọc trai có tính hàn, không thích hợp để thiếu nữ uống.
Lấy sức khỏe đổi lấy sắc đẹp, để được tên buôn người kia đánh giá cao? Trừ khi nàng ta đây ăn no rửng mỡ.
Nàng bản tọa không cãi lại, chỉ cười: “Là bản tọa không có phúc.
Trước lúc từ biệt để cho các tỷ muội uống thêm nhiều chút.
Ngày mai các đối phương vào kỹ viện rồi, có thai luôn chắc là khổ lắm.”
Mấy người họ tái mét mặt: “Kỹ viện? Không phải nói sẽ đưa chúng ta đây đến Hòa Điền sao?”
Đoan Ngọ lười biếng nằm trên giường, khoanh tay làm gối: “Các cậu không biết gì à?…!Ha ha, thôi quên đi, coi như bản vương không nói gì, tránh cho các cậu bị đánh đòn.”
Những người khác tức thì kéo tới chỗ cô ấy nói: “Nói mau! Ngươi bản vương ở bên ngoài nghe được cái gì?”
Đoan Ngọ nói: “Vốn dĩ là đi Hòa Điền.
Nhưng Yến Tử Kinh lo các đối phương quá mong manh, không vượt qua được sa mạc, chết mất mấy người thành ra lỗ vốn, không bằng ra tay luôn ở đây.
Ngoài kia có một lão đầu mở kỹ viện, muốn dùng lạc đà để đổi lấy các ngươi ta đây.
Vừa rồi bản vương nghe qua, hình như sự đã thành.”
Mấy người họ đều sững sờ.
Nữ nô lệ vừa nhìn lén Yến Tử Kinh vừa run giọng hỏi: “A, chẳng trách lão phu thấy ngài ấy ngồi im, mãi lâu sau mới khẽ gật đầu một cái…!sau đó…!gọi A Thường mang một ly rượu đến cho lão già chết tiệt đó…”
Hai nữ nô lệ ôm mặt khóc nức nở, những người còn lại thì ngồi đó sững sờ.
Trời đã tối, nhưng không ai nghĩ đến việc thắp đèn.
Đoan Ngọ nhắm mắt che miệng, cười thầm.
Nhưng đi qua sa mạc đúng là rất khó khăn.
Sau khi trút giận xong, cô ấy không khỏi xót xa cho những “bông hoa” mỏng manh này.
Nghĩ một lúc, Đoan Ngọ bèn lăn ra ngủ.
Trong giấc mơ, dường như nàng bản vương nghe thấy tiếng một nữ tử đang khóc, rất giống Tịch Tịch.
Nữ nhân ấy trầm mặc, cuối cùng không nhịn được nói: “Tịch Tịch?”
Bên cạnh chẳng có Tịch Tịch nào cả, chỉ có một cô gái cùng phòng đang khóc.
Nữ nhân ấy ôm lấy nữ nhân ấy bản vương, nói: “Sao vậy? Nín đi!”
Cô bé kia khóc thảm thiết, Đoan Ngọ kinh hoàng nói: “Chuyện vào kỹ viện là bản tọa bịa ra thôi, đối phương tưởng thật đấy à?”
“Không…!ta đây…!ta đây đau bụng…!đau quá.”
Đoan Ngọ biết nước bỏ bột ngọc trai có tính hàn, cô bé kia đang có nguyệt sự nên dẫn đến đau bụng kinh.
Nàng lão phu nắm lấy bắp chân của cô bé kia, ấn mạnh vào những huyệt đạo quan trọng.
Hai năm nay, mỗi khi Tịch Tịch đến tháng đều bị đau bụng nên Đoan Ngọ học được chiêu này.
Cô bé kia nói: “Lão phu muốn uống nước nóng…” Mọi người trong phòng đều đã tỉnh dậy, không dám gây ra tiếng động lớn.
Đoan Ngọ đang định thắp đèn thì nghe có tiếng bước chân.
Có người mở khóa, khẽ gọi nữ nhân ấy.
Cô bản vương muốn nghĩ cách lấy nước nóng nên đáp lại, đi giày ra cửa.
Người đến là A Thường.
A Thường ngay ngay lập tức khóa cửa lại, không nói lời nào, kéo nữ nhân ấy vào góc hiên.
“Đoan Ngọ, gia đã thu thập xong hàng hóa, bảo bản tọa mai trở về Đại Đô.
Lão phu…!ngươi lão phu…”
Đoan Ngọ cười nhạt: “Đối phương là tay sai, bản tọa là nô lệ.
Còn có thể làm gì? Cậu có thể mang lão phu chạy trốn sao?”
A Thường buồn bã: “Bản vương…!đối phương đi đường cẩn thận.”
“A Thường, đối phương lấy cho lão phu ít nước nóng.”
A Thường không hiểu, nên Đoan Ngọ nói thẳng luôn: “A Thường, đối phương nói cho lão phu biết: Tại sao lại cho chúng lão phu uống nhiều nước pha bột ngọc trai như vậy?”
A Thường nhẹ nhàng nói: “Là vì gia muốn tạo quan hệ với một quý tộc Mông Cổ.
Gần đây, người Mông Cổ kia mắc phải một căn bệnh lạ.
Nghe nói để chữa bệnh của tên đó cần một loại thuốc dẫn, chính là xử nữ có thể chất thuần âm.”
Thuốc dẫn? Người Mông Cổ? Dùng làm thuốc dẫn kiểu gì? Nuốt sống, luộc chín hay uống máu của các nữ nhân ấy?
Đồng tử của Đoan Ngọ giãn ra, nữ nhân ấy hít vào thở ra mấy hơi, cầu xin: “Được, lão phu đã biết.
Cho bản vương một cốc nước nóng đi.”
A Thường đột nhiên khoác tay lên vai nữ nhân ấy: “Đoan Ngọ…”
Một ánh lửa xuyên qua góc tối, một người hầu nói: “A Thường, ngươi ta đây nói gì với nữ nhân đó vậy?”
Đoan Ngọ đầy khí thế, nói lớn: “Lão phu xin hắn lão phu một cốc nước nóng, không có gì cả.”
A Thường và Đoan Ngọ bị đưa đến cửa phòng của Yến Tử Kinh, bị ép quỳ xuống.
Yến Tử Kinh khép hờ mắt, thong thả nhả chữ: “A Thường, đối phương theo lão phu mười năm, có biết vì sao lão phu không thích mở mắt không?”
“Có ạ…!Gia từng nói: Đối với kẻ ngốc không hiểu chuyện, mắt không thấy tâm không phiền.”
“Ngươi ta đây có phải người hiểu chuyện không?”
“Bản tọa…!Gia, bản tọa không làm gì cả.
Bản tọa chỉ nói với cô ấy bản tọa mấy câu…”
“Ngày nào ngươi bản tọa cũng đưa nàng bản tọa bản tọa đi đông đi tây, còn chưa nói hết à? Có cần bản tọa phải nhốt kẻ giữ khóa lại không? A Thường, ngươi bản tọa mất trí đó hả? Ngươi bản tọa là ai, nàng bản tọa bản tọa là ai?” Yến Tử Kinh ngừng nói, ánh mắt lạnh lùng trong trẻo.
A Thường run rẩy: “Gia, bản tọa sai rồi! Bản tọa là tâm phúc của người, cô ấy bản tọa là nữ nô lệ.
Ta đây sai rồi!”
Yến Tử Kinh giơ tay lên.
Trước đầu gối của A Thường có thêm một cành liễu đỏ, giống như cành liễu mà A Thường tặng Đoan Ngọ.
“Biết vật này không?”
A Thường lại rùng mình: “Biết ạ, thuộc hạ đáng bị đánh năm mươi roi.”
Đoan Ngọ trừng mắt nhìn Yến Tử Kinh, trùng hợp thay, hắn bản vương cũng đang nhìn cô bản vương.
A Thường đang định tự ra tay với chính mình, Yến Tử Kinh nói: “Đối phương nghĩ sai rồi.”
“Gia?”
Yến Tử Kinh nói: “Còn cần lão phu phải nói ra sao? Lấy công chuộc tội.”
Giờ Đoan Ngọ mới hiểu ra, Yến Tử Kinh muốn A Thường đánh cô lão phu.
Tuy A Thường là tay sai, nhưng vẫn là một thiếu niên lang trung thành.
Làm trái với quy định, nên cần phải làm vậy?
Nghĩ đến đây, nàng ta đây nghiến răng, cố ý cười lớn, nói với A Thường: “Cái thứ chủ nhân oái oăm chẳng khác gì mẹ chồng.
Lão phu còn sợ bị đánh sao? Đánh, đánh đi, tốt nhất là đánh chết luôn đi.
Giết người chỉ bằng một cái gật gật đầu, mấy cành cây nhỏ này tính là gì.”
Sắc mặt Yến Tử Kinh vô cảm, còn mặt A Thường đã tái xanh, hắn lão phu mãi mới giơ nhành liễu đỏ lên, quật lên lưng Đoan Ngọ.
Đoan Ngọ không nhịn được kêu “a” một tiếng, tức thì nhét quả đấm vào miệng.
Thảo nào người ta đây hay dùng liễu làm roi quất ngựa, đau đến cháy người…
Sau khi bị đánh mấy chục cái, các đốt ngón tay của nữ nhân ấy trở nên trắng bệch, đôi mắt to ngập nước.
A Thường dừng lại.
Cô ấy buông quả đấm ra, liếc nhìn hắn ta đây, lạnh lùng nói: “Ta đây không nợ cậu gì nữa.”
Yến Tử Kinh đứng dậy, đi đến trước cửa, nói với A Thường: “Nhớ lấy, nô lệ không dùng để yêu thương mà dùng để kiếm tiền.
Sáng mai khởi hành đúng giờ.”
Đoan Ngọ đau đến mức cơ thể co rút, thần trí không còn tỉnh táo.
Thật lâu sau, có giọng ai đó vang lên: “Cho cô lão phu lão phu tắm nước muối, rồi bôi thuốc.”
Đoan Ngọ thầm hỏi thăm tám đời tổ tiên nhà Yến Tử Kinh.
Nữ nhân ấy nằm úp mặt xuống, được người khác “phục vụ”.
Cô ấy hét lên mấy tiếng, sau đó xuýt xoa, rít vào mấy hơi, trong lúc người bản vương bận rộn “phục vụ” thì cô ấy đã ngủ thiếp đi.
Trời gần sáng, cô ấy nói mớ trong mơ: “Này…!Mau cho chúng bản vương một cốc nước nóng!”
Nữ nô lệ bên cạnh lau đi những giọt nước mắt trên khóe mi.
Yến Tử Kinh ở dịch trạm mấy ngày liền, giống như đang chuẩn bị hành lý.
Có lẽ là do sự bướng bỉnh của Đoan Ngọ, hoặc cũng có thể là tác dụng thần kỳ của thuốc mỡ, đến lúc đội lạc đà chuẩn bị lên đường thì những vết roi chồng chéo trên lưng Đoan Ngọ đã kết sẹo.
Cảm giác không thoải mái duy nhất là vết thương lên vẩy, khá ngứa.
Đây là lần đầu tiên Đoan Ngọ cưỡi lạc đà, nàng ta đây rất tò mò, vỗ nhẹ vào chân con lạc đà, nhéo lông của nó, nói thầm vào tai nó: “Lư Sơn tinh, Lư Sơn tinh!” Đôi mắt đen như ngọc càng trở nên chói mắt, ngay cả ông lão dẫn đội lạc đà nhìn thấy cũng không khỏi cười rạng rỡ.
Yến Tử Kinh đang định hạ lệnh khởi hành thì ở phía trước đội lạc đà, có một con lạc đà lông trắng đang đứng thẳng khiến những con khác cũng đứng dậy theo, chuông lạc đà vang lên từng hồi.
Đoan Ngọ ngồi trên lưng con lạc đà trắng, nhìn xung quanh, như thể không hiểu chuyện gì đang xảy ra.
Yến Tử Kinh phất tay, đội ngũ xếp thành hàng dài chậm rãi tiến về phía trước, tiến vào sa mạc vàng dường như kéo dài vô tận.
Nhóm người của họ sẽ đi qua con đường tơ lụa phía nam, vượt qua Lâu Lan, Tĩnh Tuyệt, dọc theo chân đồi phía bắc của dãy núi Côn Lôn, cho đến khi đến được thành Hòa Điền.
Sa mạc là con đường không có lối đi.
Hàng nghìn năm trôi qua, cát sỏi đã chôn vùi dấu vết của bao thế hệ, nhưng lại truyền cho đời sau niềm hy vọng.
Trong mắt Đoan Ngọ, sa mạc chỉ có gió và cát vàng, trên trời không có chim bay, dưới đất không có cây mọc, nhưng lại có những hàng liễu đỏ sừng sững.
Những tàn tích đổ nát, những ngọn hải đăng sứt mẻ đều nói cho người bản tọa biết về vinh quang trong quá khứ.
Trên đường đi, Đoan Ngọ nhặt được một chiếc lược gãy, vài đồng xu cổ và một mảnh sứ thanh hoa.
Mặt trời đốt cháy làn da nàng ta đây, mồ hôi nàng ta đây rơi xuống cát sỏi, rồi ngay lập tức biến mất.
Sau mấy ngày ở sa mạc, những gì thấy trước mắt là hoang tàn nối tiếp hoang tàn, cô đơn nối tiếp cô đơn.
Đoan Ngọ nằm trên lưng lạc đà, chỉ có thể bịa ra vài câu chuyện cho đỡ nhàm chán, hết đoạn văn này đến đoạn văn khác, hết chương này đến chương khác.
Mặc dù đã mang đủ nước nhưng vì vài sai lầm mà đội lạc đà vẫn thiếu nước.
Cuối hành trình, mỗi người chỉ còn một túi nước nhỏ.
Đoan Ngọ không viết truyện nữa, cũng không còn khả năng mà viết.
Cô bản tọa muốn ngắm nhìn đồng cỏ tươi tốt, nước biển trong xanh.
Dựa vào những trải nghiệm cực kỳ khắc nghiệt của nàng lão phu lúc còn ở phường Mò Ngọc, nàng lão phu biết, nước chính là sự sống.
Nàng bản vương không nhịn được muốn giải khát, nhưng vẫn tự nhủ: Ráng nhịn đi, ráng nhịn thêm chút nữa, có lẽ vẫn nhịn được đó?
Bỗng nhiên, một nữ nô lệ rơi khỏi lạc đà.
Cô bản vương bản vương điên cuồng chạy về phía xa, bắt đầu cởi hắn phục, điên cuồng la hét: “Bản vương muốn uống nước, cho bản vương nước!”
Đoan Ngọ hét lên: “Quay lại!”
Mọi người cũng nhảy xuống đuổi theo cô bé kia, lúc sau thì thấy nàng lão phu lão phu đang nằm thở thoi thóp trên cát.
Ông lão dẫn đoàn nói: “Đừng cho nữ nhân ấy lão phu nước.”
Đoan Ngọ nhìn nữ nô lệ kia dường như không chịu được nữa, đang giương mắt chờ chết.
Cô ấy lấy túi nước của mình ra, đút cho cô ấy lão phu một ít.
Nữ nô lệ kia thở hắt ra vài hơi, sau đó mất đi sự sống.
Đoan Ngo ôm đầu cô ấy lão phu, vuốt mắt giúp cô ấy lão phu.
Yến Tử Kinh xuống lạc đà, đôi môi mỏng đã sớm khô nứt chảy máu, toàn thân quấn vải kín mít, lạnh lùng nhìn về phía này.
HẮN không lên tiếng, chỉ làm động tác tay.
“Đi thôi! Cát sẽ sớm chôn vùi nàng bản tọa bản tọa.” Ông lão dẫn đường khuyên Đoan Ngọ.
Đoan Ngọ giúp người chết quấn chặt hắn phục, đặt đồng xu cổ, mảnh sứ và chiếc lược gỗ mà nữ nhân ấy nhặt được vào tay nữ nhân ấy lão phu.
Nữ nhân ấy khoác túi nước lên lưng, loạng choạng quay lại đội ngũ.
Liếc mắt thấy Yến Tử Kinh đang dùng thứ nước quý hơn vàng của hắn tưới lên chậu lan đỏ.
Họ tiếp tục tiến về phía trước, vào một nơi xa xa trong sa mạc, nơi có thứ ánh sáng mơ hồ.
Lúc mọi người đang chìm vào tuyệt vọng, thì có người chỉ sang một bên nói: “Nhìn kìa!”
Ở đường chân trời xuất hiện một cảnh tượng tuyệt đẹp mà Đoan Ngọ chưa từng thấy trước đây: Đỉnh núi phủ tuyết kéo dài ngàn dặm, dãy núi xanh biếc, thôn trang được bao quanh bởi mây.
Ở đó, xuân quang rực rỡ dang tay ôm lấy vạn vật.
Hoa hạnh tràn ra như những chiếc ô, thác nước trong vắt, trâu bò thảnh thơi gặm cỏ, chim nhạn quay về chân trời.
Trên triền núi loáng thoáng bóng dáng của một đội kỵ binh.
Tư thế oai hùng hiên ngang, như thể được triệu tập để đi sang bên kia sông Thiên Hà.
Ông lão dẫn đường ôm con lạc đà, nói: “Ảo ảnh!”
Đây là ảo ảnh sao? Đoan Ngọ quên đi cơn đói khát, quên đi nỗi bi thương, hỏi ông lão: “Nếu có một nơi như vậy thật thì nó ở đâu?”
Ông lão lần lượt nhìn những người đang chìm đắm trong ảo ảnh, nói: “Đây là một địa danh trong truyền thuyết ở núi Côn Lôn: Cổ Lệ Tư Đan, một hoa viên có thật.
Người lão phu thường nói người phàm không đến được nơi đó, chỉ có thiên sứ mới ở lại được.
Thi nhân có tả: Nơi đó đất đai tràn đầy sức sống, cỏ mọc tươi tốt, cành lá rung ring.
Mùa đông giá rét sẽ qua đi, nhưng những điều tốt đẹp thì lưu lại.
Con người nhân hậu, bác ái, muôn kiếp tình nhân yêu nhau đến khi tóc bạc.”
Đoan Ngọ nói: “Tốt quá! Nơi đó không có nô lệ đúng không?”
Ông lão mỉm cười, khuôn mặt đầy những nếp nhăn, thoáng hiện lên vẻ sáng ngời không tương xứng với tuổi tác.
Lão nói: “Không có.
Nhưng nô lệ trên đời không chỉ tính những người được gọi là nô lệ.”
Đoan Ngọ suy nghĩ, bỗng nghe thấy tiếng chuông.
Yến Tử Kinh không chút lưu luyến, một mình lên đường, hướng về phía ánh hoàng hôn.
Khi vầng trăng bạc treo giữa trời, họ đã đến rìa sa mạc, sáng mai có thể đến được Hòa Điền.
Mọi người đang cổ vũ tinh thần cho nhau vì sắp đến ốc đảo, thì đột ngột gặp phải một cảnh tượng kinh hoàng.
Mấy chục thi thể nằm la liệt trên đường.
Máu thịt trộn lẫn vào nhau, áo không đủ che thân.
Tiền bạc, đồ dùng, lụa rách vương vãi khắp nơi.
Thảm hại nhất là một phụ nữ mang thai, vẫn đang ôm lấy cái bụng nhô lên.
Có người tìm thấy một văn điệp thông quan đưa cho Yến Tử Kinh.
Yến Tử Kinh đọc xong, nói với ông lão dẫn đường: “Những người này là thương đội Qua Châu, tới đây mua ngọc…”
Ông lão dẫn đường khẽ thở dài: “Lại là đám giặc núi Côn Lôn, bọn ác ma này nên bị chém thành trăm mảnh!”
Trong mắt Yến Tử Kinh tràn ngập ánh trăng, gã mím môi dưới, kiên quyết nói: “Chúng bản tọa không thể ở lại chỗ này, tiếp tục đi!”
Ông lão dẫn đường do dự một lúc, rồi nói với mọi người về ý định của Yến Tử Kinh.
Dù ai cũng đã mệt mỏi đến cực điểm, nhưng đối mặt với thảm cảnh trong sa mạc như vậy, nên nếu ở lại thì khó lòng mà ngủ yên.
Đội lạc đà lại lên đường cùng với những tiếng oán than.
Đoan Ngọ đuổi kịp ông lão dẫn dường, hỏi về đám giặc nói Côn Lôn.
Ông lão cho biết: “Những năm gần đây, những băng đảng lớn nhỏ xuất hiện ở dãy núi Côn Lôn.
Hai thủ lĩnh nổi tiếng nhất là Dạ Trung Tuyết và Hổ Phách Quang!”
Đầu Đoan Ngọ căng ra, đập vỡ nồi đất hỏi đến cùng: “Hổ Phách Quang, Dạ Trung Tuyết? Đây là tên hay biệt danh?”
“Không biết.
Ngươi ta đây muốn gia nhập à?” Ông lão hỏi.
Đoan Ngọ vội lắc lắc đầu, trong lòng vẫn còn sợ hãi, không khỏi có ác cảm với đám giặc này.
“Không, lão phu chỉ muốn biết tại sao lại có hai cái tên đó thôi?” Nàng lão phu nói.
Lúc này một con ngựa gầy đuổi kịp ông lão dẫn đường.
Họ nghe thấy giọng hát trong trẻo như tiếng trẻ con của người kia:
“Cuốn rèm xem trăng lòng chợt hưng phấn, phải chăng là Dạ Trung Tuyết núi Sơn Âm.
Dạ Trung Tuyết, kẻ gan dạ nhất trong số những kẻ gan dạ, chàng trai đẹp nhất trong số những chàng trai đẹp.
TÊN ĐÓ là kiếm sĩ giỏi nhất phía tây Dương Quan, mang trong mình một trái tim thuần khiết, hào sảng ngang tàng, tên đó giống như thảm hoa trên trái đất, tinh không vạn dặm đầy sao, là niềm tự hào của tạo hóa và là niềm hy vọng của ốc đảo.
Rượu ngon Lan Lăng, hoa uất kim hương, chén ngọc tràn ngập Hồ Phách Quang.
Hổ Phách Quang, kiếm khách khát máu, đứa con của ác quỷ, hắn là mây trên trời, cát trong tay.
Hắn bản vương là người đi ngang qua địa ngục, là sứ giả của thần núi.
TÊN ĐÓ cưỡi ngựa đón gió dong ruổi, cỏ khô phía sau chớp mắt bùng cháy.”
Đoan Ngọ nhìn kỹ hơn, thấy đó là một đứa trẻ khoảng mười hai mười ba tuổi, với mái tóc xoăn màu đỏ và làn da ngăm đen.
Thân hình thấp lùn, giống như lời căn dặn súc tích của triết nhân.
Đôi mắt linh hoạt, giống như đom đóm nhảy múa.
Cậu lão phu nhìn Đoan Ngọ, rồi ấn vành mũ nỉ xuống để nhìn cho rõ.
Đoan Ngọ cảm thán: Đúng là chiếc mũ xấu xí mà ai cũng chê!
Ông lão dẫn đường cười: “Sóc nhỏ? Sao cậu lại đến đây? Cậu có đi Hòa Điền với chúng ta đây không?”
Sóc nhỏ nói chuyện trầm bổng giống như hát: “Đại gia, có hai việc đi ngược lại với lẽ thường, không phù hợp với lời dạy của thánh nhân, một là uống thuốc bừa, hai là không đi cùng lữ đoàn, một mình tìm đường.
Chẳng lẽ ta đây lại không đi cùng ông?”
Đoan Ngọ cười, nói với sóc nhỏ: “Lão phu là Đoan Ngọ.”
“Mọi người gọi bản vương là sóc nhỏ, bản vương phiêu bạt tứ phương không có nhà.
Mọi người hay gọi bản tọa là tên ăn mày, nhưng bản tọa chỉ đi hát rong thôi mà.
Vì lão phu là con trai của thi nhân, là cháu trai của thi nhân.”
Đoan Ngọ suy nghĩ một lúc, rồi bắt chước giai điệu của sóc nhỏ: “Sau này ngươi bản tọa nhất định sẽ là cha của thi nhân, là gia gia của thi nhân.”
“Cảm ơn mỹ nữ.
Đôi mắt nữ nhân ấy như hoa thủy tiên vàng nở rộ, cảnh tượng vừa rồi có hù dọa nữ nhân ấy không?
Người sống đi vào nghĩa địa, người chết chẳng bao giờ có thể sống lại, từ lúc thời gian luân chuyển, đại lục đã như thế rồi.”
Đoan Ngọ chưa từng thấy bé trai nào có thể nói chuyện vui tai như sóc nhỏ, vì vậy cảm thấy khá vui vẻ.
Khi họ đến dưới thành Hòa Điền, trời còn chưa sáng.
Bởi vì sự uy h**p đến từ đám giặc núi Côn Lôn, thành Hòa Điền đóng cổng thành trước khi mặt trời mọc.
Yến Tử Kinh dường như không hề mệt mỏi, sai người đi kiểm quân số, tra xét hành lý.
Đoan Ngọ đương nhiên được đếm vào, lúc này sóc nhỏ mới biết nữ nhân ấy là nô lệ, tuy lộ ra vẻ mặt tiếc nuối nhưng cũng không nói gì.
Ông lão dẫn đường đưa sóc nhỏ đến chỗ Yến Tử Kinh: “Đứa trẻ này là sóc nhỏ, hay lang thang ở những góc phố nổi tiếng của con đường tơ lụa.
Ngài có thể cho tên đó làm tùy tùng, cho tên đó nhờ giấy thông hành của ngài để vào thành không?”
Yến Tử Kinh nhìn chằm chằm sóc nhỏ, hơi nhíu mày.
Sóc nhỏ hành lễ cực đẹp, mỉm cười nói:
“Yến Tử Kinh, thương nhân giàu có đến từ Đại Đô, là tân khách trong yến hội Đại Hãn, gã trẻ trung, rực rỡ tươi đẹp, dung mạo đoan chính, hành lý hoa lệ, người hầu lại đẹp xinh.
Như bông tuyết trong đám lau sậy giữa màn đêm, bồng bềnh bay mãi trên vùng đất cằn cỗi.”
Trên khuôn mặt trắng nõn của Yến Tử Kinh lộ ra sự dè dặt.
Trước những lời “tâng bốc” của sóc nhỏ, hắn yên lặng không nói, ánh mắt rời đi nơi khác.
Đoan Ngọ biết đó là biểu hiện tên đó đồng ý.
Một tia nắng ban mai từ sau vai đoàn người quét qua, chiếu đến tòa thành cổ tang thương.
Một tờ cáo thị dán trên tường thành.
Ông lão dẫn đường nói: “Đây là tiền thưởng của Hãn quốc Sát Hợp Đài dành cho người lấy được đầu của đám giặc.
Dạ Trung Tuyết và Hổ Phách Quang là hai kẻ cầm đầu được treo mức thưởng cao nhất!”
Đoan Ngọ gật gật đầu, sóc nhỏ ậm ừ đồng tình:
“Một kẻ gian một vàng một chiêng, nghênh quan hai trống một chiêng.
Vàng trống xem ra đều tương tự, quan nhân lại chẳng khác gì kẻ gian.”
Đoan Ngọ vỗ tay: “Nói đúng lắm! Kẻ xấu trong quan phủ cũng rất xấu!”
Sóc nhỏ lấy ra một cái túi nhỏ, đưa cho Đoan Ngọ: “Cho cậu.
Đây là vật ca ca cho bản vương, bản vương một nửa cũng không nỡ ăn đâu đấy.”
Đoan Ngọ hết sức cảm ơn, ăn một ít, đó là hạt thông trộn với hạt óc chó, ăn vào có hương vị thơm dịu.
Cô ấy không nỡ giành mất thứ tốt của người khác, nên trả lại phần nhiều vào túi của sóc nhỏ.
Cửa thành mở, mọi người dụi đôi mắt ngái ngủ, tiến vào thành Hòa Điền.
Dù nghe nói đám giặc trong truyền thuyết rất ngang ngược, nhưng lúc này thành cổ tắm mình trong ánh nắng ban mai, đường sá sạch sẽ, thanh bình, tươi đẹp, không hề có dấu hiện bất ổn nào.
Sóc nhỏ theo mọi người đến quán trọ lớn, rồi vẫy tay chào tạm biệt Đoan Ngọ.
Chủ quán đã sớm chuẩn bị nước nóng cho lữ nhân gột rửa bụi bặm.
Đoan Ngọ mãi mới tắm rửa, giặt giũ xong, sau đó thì mệt đến mức không cử động được cả ngón tay.
Nàng bản vương mới nghỉ ngơi được một lát thì có người truyền lời: “Chủ nhân chuẩn bị đến phủ Uất Trì, ngươi bản vương mau đi theo đi.”
Đoan Ngọ nghĩ: Đây có khác gì bóc lột đâu.
Nàng bản tọa lao xuống lầu, sau đó đi chậm lại, làm ra vẻ buồn ngủ.
Tám người hầu đổi tên đó phục xong như biến thành người khác, tinh thần rạng rỡ hơn hẳn, như những vì tinh tú vây quang Yến Tử Kinh đang mặc bộ tên đó phục trắng như tuyết.
Nam nhân kia đang cúi đầu trầm tư, khuôn mặt rạng rỡ, gò má đẹp đến mức suýt không nhận ra.
Ông lão dẫn đường chào tạm biệt hắn ta đây ở cửa, hắn ta đây đưa cho lão một túi tiền xu.
Cho dù là động tác trả tiền cũng nhìn rất chi là phong độ.
Nhưng Đoan Ngọ chỉ muốn nhắm mắt quên đi tất cả, nên lại âm thầm hỏi thăm tám đời tổ tông Yến gia một lượt.
Lúc đến phủ Uất Trì, Đoan Ngọ lại gặp sóc nhỏ.
Sóc nhỏ đang đứng trước cửa phủ, hết sức thanh tao cất tiếng hát:
“Uất Trì công tử, danh tiếng hiển hách,
Thành chủ Bạch Ngọc, quần anh tài năng xuất chúng,
Bàn về huyết thống, hắn lão phu xuất thân từ dòng chính vương tộc Vu Điền cổ được các thánh hiền yêu thích,
Bàn về tôn giáo, gã là Bồ Tát chốn nhân gian, người người thành kính,
Bàn về nhân phẩm, tên đó là người khôn ngoan, lại tốt bụng, hào phòng…”
Quản gia của Uất Trì phủ từ trong cửa ném ra mấy đồng xu.
Sóc nhỏ nhận tiền nói cảm ơn, chớp mắt với Đoan Ngọ rồi chạy biến.
Yến Tử Kinh còn chưa kịp mở miệng, quản gia thấy hắn đã nói: “Là Yến Tử Kinh đại nhân đó hả? Công tử nhà bản tọa đợi ngài đã rất lâu rồi.”
Yến Tử Kinh gật gật đầu, người nọ dẫn lũ người kia vào sảnh.
Hàng cột trụ bằng đá cẩm thạch, lớp khảm rất giống với phong cách Tây Vực.
“Yến đại nhân, mời ngài chờ ở đây.
Công tử sẽ tiếp đón ngài ở nội viện.”
Yến Tử Kinh đứng thẳng lưng, nhìn chằm chằm vào Đoan Ngọ.
Đoan Ngọ cứng đầu, cũng làm hắn như tên đó.
Nội viên có những dây leo sáng lạn, lá xanh chim vàng anh, những mái vòm chạm khắc màu trắng, một hồ nước trong vắt kiểu Ba Tư.
Chim uyên ương vỗ cánh bay vào bóng mát của giàn nho.
Tiếng nước cháy róc rách, hòa cùng với mùi thơm thanh nhã của hoa.
Yến Tử Kinh dừng bước.
Hắn lão phu kiêu ngạo ngẩng đầu lên, giống như cây bách đứng trong sân của một quý tộc.
Đoan Ngọ bị thu hút bởi bức tượng Bồ Tát khảm ở hành lang.
Tượng Phật gầy, trang nghiêm, vạt áo đón gió.
Nhưng trên khuôn mặt thanh nhã, điềm tĩnh lại có những giọt nước mắt.
Từ đôi mắt phượng nỗi buồn thương dường như đang tuôn chảy theo dòng nước.
“Người nhà này thật quái dị! Sao Bồ Tát lại rơi lệ?” Nàng lão phu nhìn tượng Phật, không khỏi hỏi.
“Đoan Ngọ…!” Yến Tử Kinh nghiêm nghị quát.
Sau hành trình kéo dài mấy tháng, đây là lần đầu tiên gã gọi tên nàng bản vương.
Đoan Ngọ quay lại nhìn Yến Tử Kinh, ánh mắt hết sức vô tội.
Trên khuôn mặt anh tuấn của tên đó thoáng hiện lên sự lúng túng.
Giữa tiếng chim hót và hương hoa, có người ung dung nói: “Đây là kiệt tác của Uất Trì Ất Tăng, gia tiên của nhà lão phu.
Bồ Tát khóc có lẽ là vì “Thế gian nhân sự có gì cực, sau này nghĩ đến cũng uổng công.”
Đoan Ngọ và Yến Tử Kinh đồng thời xoay người lại, thấy một chiếc ghế đá dưới bóng cây xanh, trên đó có một mỹ nam tử đang ngồi, thân hình cũng gầy gò như tượng Phật.
Trên đùi tên đó để một cuốn sách cũ, trong tay cầm một bình ngọc, dáng vẻ tao nhã, mỉm cười như gió xuân.
Yến Tử Kinh nhìn nam nhân trong chốc lát, không khỏi cúi người xuống.
Đột nhiên, trong đầu Đoan Ngọ hiện ra một câu nói: Quân tử khiêm tốn, dịu dàng như ngọc..