Ân Thù Kiếm Lục
Chương 58: Một chiêu tuyệt thế
Phong thư của Tưởng Tiếu Dân theo lời tên đó thác lại phải được trao tận tay chủ nhân Tinh Linh tiểu lâu.
Nếu vậy thì ước đoán của Phương Bửu Ngọc không sai, Tưởng Tiếu Dân quả có liên quan tới Bạch Thủy cung.
Thảo nào lúc trao thư tên đó không cần nói Tinh Linh tiểu lâu ở địa phương nào. TÊN ĐÓ hiểu là thế nào chàng cũng tới Bạch Thủy cung.
Bất giác chàng đưa tay sờ trong mình. Phong thư vẫn còn đó.
Tưởng Tiếu Dân lấy cái chết để đổi một lời hứa của chàng, một lời hứa một mạng người, có khi nào chàng quên được.
Phương Bửu Ngọc nghĩ cũng may mà chàng đi một công hai việc.
Chứ nếu một việc chuyển thư không thì lặn lội tới đây mà chết thật oan mạng quá chừng. Có đến đây rồi mới biết đường vào Tinh Linh tiểu lâu là đường dẫn tới Uổng Tử thành.
Chàng lại nghĩ, nếu như lúc trước Tưởng Tiếu Dân có chỉ đường cho chàng thì chàng cũng nhận lời như thường. Vì chàng đâu có thể tưởng tượng rằng trên thế gian lại có một nơi người bản vương không thể lui tới.
Người bản vương không cấm đến, song cứ muốn đến nếu vong mạng cũng chẳng oán trách ai được. Không phải tự mình muốn thế hay sao?
Đến Tinh Linh tiểu lâu phải rẽ qua một ngả khác. Đến Tinh Linh tiểu lâu rồi lại trở lại đây để tiếp tục đi tới trung tâm Bạch Thủy cung, thật khó hơn lên trời.
Hơn nữa, ai biết được ẩn giấu sau việc nhờ vả đưa thư, Tưởng Tiếu Dân đã sắp xếp một âm mưu gì?
Chàng không dám chắc con người mang nỗi nhục bị chàng đánh bại có hảo ý với chàng.
Trong mười người đã hết chín, có nhục rửa nhục, có thù trả thù.
Đấy là lẽ đương nhiên, Tưởng Tiếu Dân có muốn hại chàng cũng là phàm thường.
Tinh Linh tiểu lâu là nơi như thế nào, yên ổn hay hiểm nghèo, nơi thanh bình yên ả hay miệng cọp hang rồng, chàng không biết. Hiểm nghèo thì chưa chắc, nhưng điều chắc chắn là công lực chàng phải tiêu hao đáng kể.
Giả sử lúc này có biến cố phát sinh, chàng cũng không có đủ sức mà ứng phó hữu hiệu. Ngay bây giờ còn thế, nói gì đi tới cuối con đường dài ngắn bao nhiêu chàng cũng chẳng biết, hiểm nghèo cỡ nào chàng không hay.
Một con đường chẳng phải quan lộ bằng phẳng. Đương đầu với bao nhiêu sự việc ngoài sức tưởng tượng chỉ để thực hiện một lời hứa suông với kẻ đã toan giết mình, giết không được lại mượn nhờ chàng trao thư hộ, trao rồi lợi lộc đâu không thấy, lại phải quay ngược lại để tới Bạch Thủy cung.
Chàng đủ sức làm những việc đó chăng?
Điều làm chàng lo ngại hơn cả là từ Tinh Linh tiểu lâu trở về Bạch Thủy cung, chàng còn phải đối đầu với hai nhân vật nào đó đang chờ chàng, mỗi người với một chiêu kiếm kinh thiên động địa, mà chiêu nào cũng có thể lấy mạng chàng dễ dàng.
Muốn vượt qua hai người đó khoan nói tới tài, hãy nói tới lực trước.
Con người bằng xương bằng thịt, sức lực là có hạn, đâu có vô biên.
Cho nên bao đời nay biết bao người không đủ lực mà ngã gục.
Chàng thì sao?
Chàng bần thần suy nghĩ.
Nên làm không?
Rẽ sang tả hay hữu đây?
Rẽ sang tả là lối đi Tinh Linh tiểu lâu, rẽ bên hữu là đường tới Bạch Thủy cung.
Hướng tả cơ hội trở về giảm đi, chàng chẳng có hy vọng tới Bạch Thủy cung.
Hướng hữu, cơ hội trở về cũng giảm như thế, chàng không có hy vọng tới Tinh Linh tiểu lâu trao thư. Rẽ hướng nào cũng có cơ lỡ ước hẹn. Đã hẹn thì không thể lỗi hẹn, đã hứa thì không thể quên lời hứa.
Tả hay hữu, hướng nào cũng quan trọng như nhau, phải làm sao đây?
Phương Bửu Ngọc khẽ thở dài, lẩm bẩm :
– Tưởng Tiếu Dân lấy cái chết đổi một lời hứa của ta đây, ta đây há không dám lấy cái chết để giữ trọn lời hứa? Danh dự một đời ta đây trong lời hứa đó, ta đây lờ đi được sao?
Chàng quay người rẽ sang hướng tả.
Con đường tới Tinh Linh tiểu lâu. Chàng cứ đi theo bảng chỉ đường, chứ nào biết tiểu lâu đó ở đâu, cách xa bao nhiêu, kiến trúc thế nào, chủ nhân là ai, thuộc thành phần nào trong võ lâm.
Tinh Linh tiểu lâu nằm trong khu vực Bạch Thủy cung như vậy, Tinh Linh tiểu lâu lệ thuộc Bạch Thủy cung chăng?
Nếu thật vậy thì người ở Tinh Linh tiểu lâu có liên quan thế nào với Bạch Thủy cung chủ? Nếu không? làm gì có chuyện một nước hai vua một đất hai chủ? Hoặc giả chủ nhân Tinh Linh tiểu lâu và Bạch Thủy cung chỉ là một người?
Chàng vừa đi vừa ghi nhớ những đặc điểm của con đường. Từ lúc vào đường động tới đây, con đường nóng có, lạnh có, ướt át có. Nhưng vào sâu hơn, đường đi trở nên sáng sủa, lại được trang trí huy hoàng chẳng khác lối đi ở cung tiên. Tuy thế, đi về hướng nào kia, chứ hướng tới Tinh Linh tiểu lâu thì chàng chẳng cảm thấy thoải mái chút nào.
Một màu đen tối, những khúc quanh khúc khuỷu, hơi ẩm ngột ngạt…
Tinh Linh tiểu lâu cận kề Bạch Thủy cung, song hai nơi như trời với vực, như địa ngục với thiên đàng, như cung tiên với động quỷ. Chưa đến tiểu lâu đã phải trải qua con đường này ai mà không chán ngán.
Tới nơi, chàng thấy Tinh Linh tiểu lâu bất quá cũng chỉ là một ngôi nhà nhỏ phàm thường. Nơi đây chẳng phải Bạch Thủy cung đâu. Không thể có liên quan tới Bạch Thủy cung được.
Bạch Thủy cung được người bản vương nhìn qua mắt người khác với lời đồn và tưởng tượng nhiều hơn là chứng kiến, một người tưởng tượng, nhiều người tưởng tượng. Cuối cùng, Bạch Thủy cung trở thành một nơi huyền bí trong thần thoại, dù là chẳng xa xôi.
Tiểu lâu đặt trên một khu đất cao, có thêm bậc đá dẫn lên cửa chính. Cửa mở rộng, một thứ ánh sáng mờ mờ chiếu hắt ra bên ngoài.
Phương Bửu Ngọc từ từ bước lên thềm. Mỗi bước, mỗi nghi vấn lại nảy sinh chồng chất lên những nghi vấn trước đó của chàng, xen lẫn với những suy đoán của chàng, trở đi trở lại, quấn quýt rối rắm không sao gỡ ra được.
Tinh Linh tiểu lâu là một phần của Bạch Thủy cung chăng? Nếu có thì chủ nhân là ai? Nếu không thì nó sao lại được dựng trong địa phận của Bạch Thủy cung? Bạch Thủy cung chủ sao lại chấp nhận một kẻ không liên quan cư trú tại mật khu?
– Dám hỏi chủ nhân Tinh Linh tiểu lâu có mặt trong đó không?
Phương Bửu Ngọc cao giọng gọi.
Không một tiếng trả lời.
Nhưng lại có tiếng động gì đó, như tiếng sóng đùa, nước cuốn vang lên, không lớn, nhưng cũng không nhỏ, đủ cho chàng nghe thấy.
Đó là tiếng gì?
Phương Bửu Ngọc lại bước lên. Hơn mười bậc nữa, lại hỏi tiếp :
– Tại hạ đến đây để thực hiện sự ủy thác của một người. Tại hạ phải trao một phong thư tới tận tay chủ nhân. Có ai đó xin vào báo với chủ nhân hộ tại hạ.
Lần này thì có tiếng người đap. Người đáp lại đó có giọng nói u sầu vô tả, như từ cõi u minh vọng về, từ bãi tha ma vọng tới.
– Chủ nhân của Tinh Linh tiểu lâu đã chết rồi.
Phương Bửu Ngọc nhận ra tiếng nói đó là của một nữ nhân. Giọng điệu u sầu song êm ái, trong trẻo cực kỳ. Nhưng lại đượm vẻ băng giá.
Người đó nói cho chàng biết một tin chàng không hề tưởng tượng nổi, chứ đừng nói mong hay không mong. Chàng sững người :
– Chết rồi ư?
Người đó nín lặng không nói.
Hỏi thế chứ chàng cũng không chờ nghe lời phản bác, cần gì phải xác nhận. Có lý do gì người bản vương phải dối chàng?
Mất thời gian, trì hoãn cuộc hành trình tới Bạch Thủy cung?
Tìm được Tinh Linh tiểu lâu là lời hứa coi như đã thực hiện tới chín phần rồi. Chỉ còn hội kiến với người nhận thư nữa là chàng hoàn tất sứ mạng bất đắc dĩ này. Thế mà, thế mà người lão phu nói với chàng, người nhận thư đã ra đi vĩnh viễn.
Chàng đã tốn công vô ích, chàng đã làm việc như một con dã tràng rồi.
Con dã tràng chỉ tốn công sức, còn chàng phải đùa với sinh mạng mình. Điều chàng làm là vô nghĩa. Tưởng Tiếu Dân, người từ cõi âm cung có theo bước chân chàng chăng? Có thông cảm cho chàng chăng?
Chắc hắn ta đây không bao giờ cho rằng chàng không thực hiện lời hứa. Hắn ta đây phải biết chàng đã làm tròn bổn phận.
Thư không tới tay người, không phải lỗi của chàng, đó là một bất hạnh ngoài ý muốn, ngoài tưởng tượng của chàng.
Còn ở lại làm gì nữa, trong khi vẫn còn việc quan trọng khác chờ chàng. Chàng đâu có thể trao thư cho người ở trong kia, người vừa báo hung tin cho chàng được?
Chàng thở dài một tiếng, từ từ quay người chầm chậm bước xuống thềm, bước chân càng lúc càng nặng nề. Đi như thế này nghi vấn đã không giải được lại càng sâu thêm. Đã tới đây ít ra cũng phải biết thêm chút gì về toà tiểu lẩu này chứ. Chỉ thế thôi, chàng thật sự cũng không phải quá hiếu kỳ.
– Còn… còn cô gái là ai?
Người trong nhà đáp :
– Lão phu là chủ nhân Tinh Linh tiểu lâu.
Chàng giật bắn người.
Thế là thế nào? Chàng không thấy sợ, chàng thấy giận.
– Thiếu nữ định đùa tại hạ phải không?
Giọng nói vẫn lạnh lùng :
– Đùa? Người chết khi nào lại đùa được.
Chàng dựng tóc gáy. Nữ nhân nói chủ nhân Tinh Linh tiểu lâu đã chết. Sau đó nói mình là chủ nhân. Như thế tức là chủ nhân vẫn còn sống. Thế mà lại xác nhận mình đã chết. Còn nói người chết không hề đùa. Chàng vẫn còn giận. Chuyện vô lý quá.
Chàng gằn từng tiếng :
– Thực sự cô gái là ai?
– Bản vương là chủ nhân ở đây. Bản vương đã chết rồi. Hiện tại đang nói với ngươi bản vương là linh hồn âm u của bản vương.
Thế này thì chàng tức lắm. Chàng quay nhanh người lại, mỗi bước năm bảy bậc. Chàng đã vào trong lầu.
Tường nhà bằng đá, chẳng có gì đặc biệt. Trong hang sâu, toà nhà nào chẳng buốt giá. Cái lạnh hang sâu thì còn có thể chịu được. Chứ cái lạnh ở đây khó chịu quá. Nó âm u, đầy tử khí.
Vào đây, không ai còn cảm giác mình đang sống. Trong những đồ vật, tới ngay cả hơi thở của mình, cũng nhìn thấy sự chết chóc.
Gió.
Gió cũng lạnh. Gió thì thào qua cửa sổ, như than khóc, ai oán não nùng. Thì ra chính gió đã tạo ra tiếng động như sóng đùa chàng nghe vừa rồi.
Tiếng vang không lớn, nên giống tiếng bi hờn oán thán…
Tựa mình bên cửa sổ, một thiếu nữ trẻ mơ màng nhìn qua cửa. Lưng áp vào cửa, nữ nhân ấy vận chiếc áo sa đen, suối tóc huyền buông xõa phất phơ trong gió. Tà áo cũng phất phơ, áo theo tóc, tóc rủ áo. Nếu nữ nhân ấy không đối thoại với chàng, hẳn chàng nghĩ đó là một pho tượng đá.
Tử khí chính từ đó, từ người cô ấy, lan rộng khắp không gian trong tiểu lâu. Chưa bao giờ Phương Bửu Ngọc gặp một u linh. Chàng nghĩ, trên thế gian này nếu có u linh xuất hiện sống chung với người, hẳn chính là cô ấy.
Màu áo đen của cô bản vương khiến khung cảnh âm u rùng rợn càng tăng vẻ huyền bí.
Bản thân nàng bản tọa đã huyền bí, sự huyền bí lan sang sự vật khác khiến tất cả đều mang vẻ bí ẩn.
Thân thể nữ nhân ấy che phủ bởi suối tóc đen, áo nữ nhân ấy lại màu đen, người nữ nhân ấy là một khối đen mờ ảo dưới ánh đèn vàng nhạt, chỉ có gò má nữ nhân ấy trắng như bạch ngọc lộ ra ngoài. Chàng không thấy trọn vẹn gương mặt nữ nhân ấy. Nhưng tiếng nói đó, dáng vẻ đó, gò má đó, đủ đoán được nữ nhân ấy đẹp lắm, đẹp cực kỳ. Nữ nhân ấy chắc hẳn là đã biết chàng lên thềm vào lầu, nhưng dù đã nói chuyện với chàng, giờ nữ nhân ấy cũng không hề quay đầu lại.
– Tinh Tinh tiểu lâu bất quá chỉ là nơi cư trú của một u hồn, cậu… tại sao cậu lại đến?
Phương Bửu Ngọc đáp :
– Tại hạ đã trình bày rồi. Tại hạ tới đây là do sự ủy thác của một người, người đó nhờ tại hạ mang đến một phong thư.
Cô ấy lại hỏi :
– Một phong thư? Cho ai?
Cô ta đây đã nghe chàng nói là trao cho chủ nhân tiểu lâu, thế mà giờ lại hỏi lại. Chàng trả lời, hơi do dự một chút :
– Trao cho thiếu nữ… trao cho… chủ nhân của tòa tiểu lâu.
Nữ nhân áo đen trầm ngâm một lúc lâu, đoạn cô ấy từ từ nói :
– Nhưng chủ nhân của bức thư là ai?
Chàng cũng hơi tư lự một hồi :
– Người nhờ tại hạ trao thư tên là Tưởng Tiếu Dân.
Cô ấy đáp :
– Có, bản vương nhận ra hắn. Song… hắn đã chết rồi.
Phương Bửu Ngọc kinh hãi :
– Hắn bản vương chết rồi. Đúng thế. Nhưng thiếu nữ làm sao lại biết?
Nữ nhân áo đen không đáp, chỉ gằn giọng hỏi lại :
– Tại sao bản tọa lại không biết?
Phương Bửu Ngọc lại hỏi lại tiếp :
– Tại sao cô gái biết là hắn ta đây đã chết?
Nữ nhân hỏi ngược lại chàng như thế, chứng tỏ mọi hoạt động của Tưởng Tiếu Dân nàng ta đây nắm rất rõ. Sự sống chết của tên đó với nàng ta đây như sống chết của người trong nhà, một lẽ tự nhiên nàng ta đây phải biết.
Điều đó chứng tỏ giữa nữ nhân ấy và Tưởng Tiếu Dân có mối liên hệ mật thiết.
Nhưng thực sự thì Phương Bửu Ngọc không tin là lại có mối liên quan mật thiết giữa cô ấy với Tưởng Tiếu Dân. Tưởng Tiếu Dân chết ngoài ngàn dặm, mà chàng thì ngay lúc Tưởng Tiếu Dân chết, đã ngày đêm tới đây không nghỉ ngày nào.
Cái tin hắn bản vương chết sao lại về đây trước chàng được?
Tinh Linh tiểu lâu cũng chẳng phải ở nơi thành thị nhiều người qua lại, thì tin tức đó được thông báo về đây bằng cách nào? Ngoài chàng ra ai có can đảm vào địa phận Bạch Thủy cung?
Cho nên chàng thấy rất ngạc nhiên.
Nàng bản vương chẳng hề chú ý tới thái độ của chàng, còn chàng thì cứ hỏi mặc kệ nàng bản vương hỏi vặn, bên hỏi qua bên hỏi lại thành ra chẳng ai đáp lời ai.
Chàng lại ước đoán. Có lẽ Tưởng Tiếu Dân tới đây thường xuyên, và giờ thì đã qua kỳ hạn đó rồi, nên nàng lão phu mới cho rằng tên đó đã chết.
Hay ít ra là Tưởng Tiếu Dân có hẹn tới đây, nhưng do tai nạn thình lình, hắn chết nên mới lỗi hẹn.
Phải thế chăng?
Tuy nhiên, chàng vẫn hỏi :
– Nhưng… tại sao tên đó phải đến đây?
Nữ nhân nhẹ giọng, u buồn :
– Bản tọa và tên đó có ước hẹn, tên đó không thể lỗi hẹn.
Chàng đoán đúng rồi. Có quen nhau, có ước hẹn, có gặp nhau mới có ước hẹn với nhau chứ.
Phương Bửu Ngọc cau mày :
– Cũng có thể vì một việc gì đó rất quan trọng hắn ta đây bận giải quyết nên không đến đúng hẹn. Sao cô gái lại chắc chắn hắn ta đây đã chết?
Nữ nhân lạnh lùng :
– Không gì có thể ngăn trở hắn bản tọa đến đây đúng hẹn với bản tọa trừ cái chết. Bất luận có chuyện gì cũng không cầm chân hắn bản tọa được. Bởi người ước hẹn với hắn bản tọa chính là bản tọa, chứ không phải ai khác. Đối phương nghe rõ chứ. Chính là bản tọa ước hẹn với hắn bản tọa.
Chính là cô ấy. Cái đó đã hẳn. Chàng có nghĩ khác đâu.
Nhưng tại sao cô ấy ước hẹn thì Tưởng Tiếu Dân không thể không đến?
Nàng ta đây nói xong quay người đối diện với Phương Bửu Ngọc.
Nữ nhân ấy đổi tư thế quá đột ngột. Phương Bửu Ngọc hết sức kinh dị.
Chàng không rõ nàng ta đây sắp có thái độ gì với mình.
Từ tư thế hững hờ chuyển nhanh sang tư thế đối diện, sự đổi thay đó là tốt hay xấu, chàng không dám đoán.
Gương mặt cô ấy tuyệt đẹp, song quá trắng. Trắng đến vô cảm.
Gương mặt trắng tương phản với màu tóc đen càng thêm vẻ huyền bí.
Ánh mắt nữ nhân ấy có một ma lực làm ngưng nhịp đập của con tim, bất kỳ nam nhân nào bắt gặp ánh mắt nữ nhân ấy hẳn cũng phải ngừng thở, máu ngừng luân chuyển.
Nàng bản tọa đang nhìn thẳng vào mặt Phương Bửu Ngọc, ánh mắt xuyên qua mắt chàng, đi thẳng vào tâm hồn chàng, như thấu rõ những gì sâu kín nhất trong chàng.
Nữ nhân ấy gằn từng tiếng :
– Tên đó với lão phu có ước hẹn với nhau. Trừ phi tên đó chết, không gì có thể ngăn tên đó đến với lão phu. Có việc gì ngăn trở tên đó được chứ, phải không?
Trước ánh mắt cô bản tọa, chính Phương Bửu Ngọc cũng thấy mất bình tĩnh :
– Phải! Thiếu nữ nói đúng.
Chàng tiếp :
– Thật sư….. Tưởng Tiếu Dân đã chết rồi.
Chàng nói nhỏ, bình thản nhưng bi thương. Nữ nhân ấy nói, vô cảm, như nói về một người xa lạ :
– Ta đây biết hắn ta đây chết rồi. Nên ta đây cũng phải chết.
Như cô ta đây đã nói với Phương Bửu Ngọc lúc đầu.
Cô ấy là chủ nhân của toà tiểu lâu, cô ấy chết rồi, đây chỉ là u linh của cô ấy. Tiếng động cô ấy bình thản quá, nhưng bên trong ẩn giấu bao niềm ai oán như sóng ngầm nơi biển cả.
Phương Bửu Ngọc vụt ngẩng đầu lên.
Tới tận bây giờ, từ lúc cô ta đây quay lại đối diện với chàng, bây giờ chàng mới nhìn thẳng vào mặt cô ta đây.
Chàng thấy vẻ bi ai thống thiết của nữ nhân ấy. Thấy cả vẻ mẫn tuệ của nữ nhân ấy.
Từ cô ta đây thoát lên vẻ thông minh tuyệt đỉnh.
Nhưng tất cả ẩn giấu dưới một vẻ lạnh lùng giá băng.
Tưởng Tiếu Dân là con người vô tình. Hắn lấy hai chữ đó làm ngoại hiệu. Người trên giang hồ gọi hắn là Vô tình công tử.
Nhưng nữ nhân này còn vô tình hơn tên đó. Ít ra cũng một bậc.
Có ai ngờ, hai kẻ vô tình gặp nhau lại thành hai kẻ thâm tình với nhau.
Chung tình rất mực, không một sức mạnh nào phá được khối chung tình đó. Đến độ một người chết đi, người còn lại cũng chết theo, xác thân chưa chết, nhưng tâm hồn đã đi theo người rồi.
Nàng ta đây dù còn giữ thân xác đó, nhưng nàng ta đây không dùng thân xác để tiếp xúc với đời, nàng ta đây dùng u linh của nàng ta đây, u linh giúp nàng ta đây gặp lại người xưa, giờ giúp nàng ta đây tiếp xúc với đời chờ ngày vĩnh viễn cùng người phiêu du.
Chàng nhìn nàng bản tọa. Nàng bản tọa cũng nhìn chàng. Lạ lùng thay, rõ ràng nàng bản tọa hoàn toàn xa lạ với chàng, nhưng càng nhìn càng cảm thấy có quen biết nàng bản tọa. Nàng bản tọa ở trên cao, ngoài tầm tay chàng, chàng không thể với tới. Thế nhưng lại có cảm giác nàng bản tọa đang ở bên, chỉ cần chàng đưa tay ra là nàng bản tọa đã có thể trong vòng tay chàng để chàng an ủi âu yếm…
Trời ơi, nhưng giờ chẳng phải lúc để chàng nghĩ vẩn vơ. Chàng rút phong thư trong người ra. Phong thư theo chàng lên cạn xuống hồ, trải mấy lần ướt rồi lại khô, chẳng biết nó còn rõ chữ hay không nữa.
Chàng nói :
– Bất luận thế nào, phong thư này cũng phải được trao cho thiếu nữ.
Cô lão phu nhún vai :
– Trao cho bản tọa? Đối phương cứ giữ lấy. Ai có nó cũng có gì khác biệt đâu?
Chàng thoáng giật mình :
– Cô gái không muốn xem?
Cô ta đây điềm nhiên :
– Xem cũng được, không xem cũng được, chẳng có gì khác biệt.
Phương Bửu Ngọc cau mày :
– Nhưng… tại hạ… mang nó từ xa tới đây…
Cô ấy lạnh lùng :
– Vậy đối phương đọc cho lão phu nghe!
– Tại hạ đọc? Đâu có tiện cô gái?
Nữ nhân ấy hỏi :
– Sao lại không tiện?
Phương Bửu Ngọc ấp úng :
– Bởi… phong thư… có thể chứa đựng chuyện riêng của hai người…
Cô bản vương trầm giọng xa xăm :
– Người đã chết rồi, cũng có điều bí mật nữa sao?
Phương Bửu Ngọc sững người. Một lúc sau, chàng khẽ thở dài, rồi từ từ mở phong thư ra.
Tay mở, lòng những mong qua mấy lần ướt nước, chữ trên thư không bị lem luốc tới không thể đọc.
Chàng muốn thư còn nguyên vẹn cho tròn lời hứa với người đã khuất. Chàng muốn nó còn nguyên tự tích vì nó chứa đựng ý niệm thiêng liêng của một tâm hồn ký gửi tới một linh hồn.
Có phong thư tình nào không thiêng liêng, khi tình cảm giữa đôi uyên ương đang hồi nồng nhiệt.
Chàng không ngờ.
Trên thế gian không ai có thể tưởng tượng được, không riêng gì chàng. Trong bì thư chỉ có một tờ giấy trắng. Một mảnh giấy trinh nguyên không một vết lấm mực.
Phong thư mà Tưởng Tiếu Dân hết sức trân trọng, dám đổi cả sinh mạng để lấy một lời hứa nhằm buộc chàng phải mang tới chỉ có một tờ giấy trắng.
Riêng hắn bản tọa, hắn bản tọa chết để buộc chàng hứa hẹn, riêng chàng, chàng bất chấp hiểm nguy. Cả hai hy sinh vì một tờ giấy trắng đến tay một người hiện đã chỉ còn là linh hồn u lạnh. Có ai trong trường hợp của chàng ngờ được chuyện xảy ra như thế.
Phương Bửu Ngọc ngây người, còn nàng bản tọa vẫn lạnh lùng cố hữu.
Nữ nhân ấy không thấy đó là lạ, chừng như nữ nhân ấy không màng tới phong thư có chữ hay không, có hay không dường như chẳng liên hệ gì tới nữ nhân ấy.
Chính cô ấy cũng nói thế kia mà.
Người của cô ta đây đã chết, chính cô ta đây cũng như đã chết, cô ta đây chỉ còn là một u linh, thư từ còn ý nghĩa gì nữa? Còn gì đáng cho cô ta đây để tâm trên thế gian này? Một người vắng bóng, cả vũ trụ hóa khoảng không.
Cô bản vương nói :
– Thư đó, ta đây đã thấy rồi.
Phương Bửu Ngọc không hiểu. Chàng thông minh, nhưng giờ chàng đầu hàng :
– Nhưng… tờ thư….
Tờ giấy trắng, cô ấy lại nói cô ấy đã thấy rồi, là làm sao?
Những phong thư trước Tưởng Tiếu Dân gửi đến cô bản tọa đều là giấy trắng, hay một dấu hiệu ngầm nào đó thỏa hiệp với nhau dù thư không chữ?
Cô bản vương điềm nhiên nói :
– Ý tứ của thư lão phu đã hiểu rõ.
Phương Bửu Ngọc tròn mắt :
– Cô gái hiểu? Một tờ giấy trắng không chữ, cô gái hiểu thế nào?
Nàng lão phu lạnh lùng :
– Vậy nhưng ta đây hiểu. Bởi ta đây hiểu ý tứ của tên đó nên không cần xem thư.
– Vậy ý tứ của tên đó như thế nào?
Nàng bản tọa đáp :
– Hắn bản tọa trao một phong thư không chữ cho cậu mang đến đây chẳng phải nhắn nhủ gì bản tọa cả. Chỉ cốt để bản tọa thấy mặt cậu. Ý của hắn bản tọa là thế. Đơn giản vậy thôi.
Phương Bửu Ngọc giật mình. Tưởng Tiếu Dân muốn cô ấy thấy mặt chàng, để làm gì?
Chàng thấp giọng :
– Thấy mặt tại hạ? Tại sao gã lại muốn như vậy?
– Tự nhiên phải có một nguyên nhân.
Phương Bửu Ngọc hỏi gấp :
– Nguyên nhân thế nào?
Nữ nhân ấy thản nhiên :
– Sau này cậu sẽ rõ. Tự nhiên cậu sẽ rõ.
Phương Bửu Ngọc cao giọng :
– Tại sao cô gái không nói ra ngay bây giờ cho tại hạ biết? Sao thái độ của cô cũng giống hai người tại hạ đã gặp, tất cả đều bí mật như muốn che giấu một sự thật nào đó với tại hạ. Tại sao? Việc gì quái dị thế chứ?
Cô ta đây không đáp, cũng không nhìn chàng.
Nữ nhân ấy nhẹ nhàng bước đi, phất phơ như theo gió đẩy mây đưa. Nữ nhân ấy ra ngoài mặc Phương Bửu Ngọc ở đó.
Chàng tâm thần không khỏi cảm thấy rối loạn, kỳ dị trước thái độ của cô ấy. Chàng nhớ tới Tưởng Tiếu Dân, tự hỏi tên đó dàn cảnh thế này làm gì?
Chàng thoáng có ý nghĩ Tưởng Tiếu Dân muốn chàng thế chân tên đó trong lòng u nữ, chỗ trống của tên đó để lại sau chuyến vĩnh du.
Nhưng không được, nghĩ thế chẳng phải tự cho mình có giá trị lắm ru?
Thế không hợp lý, có ai tự dưng nhường người yêu cho người khác để lấy cái chết về mình. Khi yêu người ta đây thường ích kỷ. Dù phải chết, vĩnh viễn rời bỏ trần thế cũng vẫn còn ích kỷ, có khi còn muốn mang theo người yêu về bên kia nhân gian cùng mình. Làm gì có chuyện nhường?
Nhường chắc gì người bản tọa đã chịu? Mà không, chắc chắn là không phải. Cho dù đúng thế, chàng không nhận, chàng không yêu nữ nhân ấy dù nữ nhân ấy đẹp tuyệt trần, mà nữ nhân ấy cũng chắc gì thuận theo sắp xếp đó.
Nữ nhân ấy yêu hắn bản vương đến thế kia mà, hắn bản vương chết, nữ nhân ấy chỉ còn thân xác vất vưởng. Còn chàng, chàng có Tiểu công chúa khả ái kia.
– Nàng bản vương quay lại, mang theo một chiếc mâm đựng thức ăn.
– Ăn đi.
Cô ấy nói lạnh lùng, nhưng như có ma lực kì lạ, chàng không thể cưỡng lại.
Huống chi đã lâu chàng không được ăn những món ngon như thế.
Cần gì tiếng động đầy ma lực của cô bản tọa.
Chàng không khách sáo. Chàng gác hết mọi việc sang bên.
Chàng ăn xong, cô ấy lại mang đến một chậu nước cùng một chiếc khăn mặt sạch sẽ. Cô ấy không hỏi chàng một tiếng, cứ tự ý cô ấy cô ấy làm. Chẳng để ý chàng có cảm tưởng gì.
Cô ấy lẳng lặng cởi khuy áo, rồi cởi luôn áo ngoài của chàng.
Cởi áo, điều đó trước kia chàng không tự làm thì nhất định chẳng để ai làm.
Nhưng bây giờ nàng bản tọa làm chàng cũng chẳng ngăn trở.
Chàng cũng không hiểu sao tự dưng mình lại ngoan ngoãn như thế.
Như một đứa em trai cần chị gái chăm sóc.
Nàng bản vương nhúng khăn vào chậu, rồi lau qua mấy vết thương trên người chàng. Nàng bản vương làm với thái độ lạnh lùng nhưng cử chỉ lại hết sức dịu êm.
Nước hẳn có hoà lẫn thuốc, vì cô bản tọa lau tới đâu, chàng nghe mát tới đó, không chỉ vết thương chỗ bị bỏng lúc trước, mà cả toàn thân, tâm hồn chàng cũng dịu lại.
Nhưng những nghi vấn trong chàng thì vẫn không dịu đi chút nào.
Một nữ nhân lạnh lùng như thế, sao lại có thể ôn nhu chăm sóc chàng một cách thiết tha như vậy được.
Tưởng như vợ chăm sóc chồng cũng chỉ tới thế là cùng.
Thoạt đầu, chàng tĩnh lặng. Sau đó thì chàng nhịn không nổi, hỏi :
– Cô gái làm thế là ý tứ gì? Có phải là tỏ lòng biết ơn tại hạ đã mang thư tới đây chăng?
Cô ta đây thản nhiên :
– Phong thơ đó, có ý nghĩa gì với ta đây đâu, mà nk cho là có ơn với ta đây?
Phương Bửu Ngọc hơi thẹn, chàng cúi đầu, thấp giọng :
– Đúng vậy! Đó không phải là một phong thơ, thì làm gì có ơn? Một mảnh giấy trắng suông, chẳng có nghĩa gì cả!
Nữ nhân giải thích :
-Ta đây làm thế, chỉ vì ta đây đã thấy mặt ngươi ta đây!
Phương Bửu Ngọc vụt ngẩng đầu lên, tiếp hỏi :
– Chỉ vì thiếu nữ đã thấy mặt tại hạ? Nhưng tại sao thấy được mặt tại hạ rồi thiếu nữ lại làm thế? Tại sao?
Nữ nhân thản nhiên :
– Tại vì lão phu rất muốn thấy mặt đối phương, lão phu ước mong được thấy mặt đối phương.
Phương Bửu Ngọc cứ đi theo cái vòng lẩn quẩn của cô ấy :
– Nhưng tại sao thiếu nữ ước mong thấy được mặt tại hạ? Thậm chí thiếu nữ chưa biết mặt tại hạ kia mà? Thiếu nữ đâu có biết tại hạ là ai?
Nữ nhân lạnh lùng :
– Sao ta đây lại chẳng biết cậu là ai? Cậu là Phương Bửu Ngọc, chứ còn ai khác nữa?
Phương Bửu Ngọc giật mình kêu lên :
– Thiếu nữ nhận ra tại hạ! Tại sao? Tại sao chứ?
Nữ nhân đáp :
– Hiện tại, dù nguyên nhân có như thế nào, cũng chẳng còn quan hệ nữa. Hiện tại, kể như chẳng có nguyên nhân! Hiện tại bản vương và đối phương chẳng có quan hệ với nhau nữa!
Nàng lão phu quay mình, lạnh lùng tiếp lời :
– Người chết, đương nhiên chẳng còn quan hệ đối với bất kỳ ai!
Phương Bửu Ngọc hết sức kỳ quái, trố mắt nhìn nữ nhân ấy, trầm âm thanh :
– Thiếu nữ… Chẳng lẽ thiếu nữ có quan hệ gì với tại hạ từ trước?
Nữ nhân thốt :
– Vô luận quan hệ như thế nào giữa ta đây và ngươi ta đây, hiện tại cái quan hệ đó không còn nữa, nó đã thuộc về quá khứ, hiện tại những gì ta đây đã làm cho ngươi ta đây, vì ngươi ta đây mà làm, ta đây đã làm xong, ngươi ta đây nên…
Phương Bửu Ngọc bực tức hét lớn :
– Tại hạ chẳng hiểu gì cả, thiếu nữ càng nói, tại hạ càng thấy mù mờ!
Nữ nhân điềm nhiên :
– Ngươi bản tọa chẳng cần hiểu làm gì. Bởi bản tọa và ngươi bản tọa chẳng còn mảy may quan hệ, ngươi bản tọa đừng nhớ tới bản tọa, bản tọa cũng chẳng nhớ đến ngươi bản tọa, chỉ vì…
Phương Bửu Ngọc vụt đứng lên, đi mấy bước, rồi nghĩ sao đó lại lùi về chỗ và ngồi xuống. Nữ nhân ấy lại nói tiếp :
– Lần trước, Tưởng Tiếu Dân cũng từ ngả này mà ra. HẮN vọt qua cửa sổ đó. Chỉ có hai cửa sổ đó là lối ra duy nhất. HẮN ở lại đây dưỡng thương mấy hôm rồi nhảy qua cửa sổ đó. Dưới cửa sổ là biển cả, nước biển mềm mại dịu êm, nước biển chẳng làm bất cứ ai bị thương tổn.
Phương Bửu Ngọc khẽ thở dài :
– Tại hạ đã đoán cô gái trọn đời ở đây hẳn tịch mịch thê lương khó chịu lắm. Vì thế khi cứu tên đó, vừa gặp tên đó cô gái đã ký gửi trái tim cho tên đó.
Cô ấy bình thản :
– TÊN ĐÓ xứng đáng cho bất cứ nữ nhân nào ký gửi tâm tình. TÊN ĐÓ là một nam nhân đầy đủ tư cách như nữ nhân mong muốn.
Phương Bửu Ngọc khẽ gật đầu :
– Đúng, hắn lão phu là một nam nhân tốt, rất tốt. Nhưng… nhưng…
Chàng nắm chặt tay, rồi đột nhiên vung tay hét to :
– Nhưng cô gái còn trẻ quá, sao cô không sống, tại sao cô gái không chịu sống chứ?
Nàng bản tọa hơi u sầu :
– Bởi trái tim lão phu tên đó đã mang đi mất rồi. Người không tim thì sống làm sao, phải không?
Chàng trầm ngâm :
– Thiếu nữ đã quyết định như vậy sao?
Nàng bản vương khẽ gật đầu :
– Phải, lão phu đã quyết định rồi. Còn đối phương, đối phương nhảy qua cửa sổ xuống biển mà đi đi. Bạch Thủy cung chẳng có gì cho đối phương lưu luyến. Ở đây chỉ có bi thương âu sầu tịch mịch mà thôi…
Chàng thở dài một tiếng, lẩm bẩm :
– Bây giờ tại hạ đã hiểu. Tưởng Tiếu Dân muốn tại hạ mang thư không lời tới trao cho thiếu nữ ngoài việc muốn thiếu nữ thấy mặt tại hạ còn có dụng ý khác. HẮN biết thế nào tại hạ cũng bị khốn như hắn, và khi lâm vào cảnh khốn đốn rồi, tại hạ chỉ còn nhờ thiếu nữ chỉ đường thoát đi. Tại hạ nghĩ vậy có đúng không thiếu nữ?
Nữ nhân buông gọn :
– Có thể đúng, có thể không.
Phương Bửu Ngọc lại tiếp :
– Đúng hay không đúng, tại hạ cũng không thể thoát. Tại hạ không thể đi một cách đơn giản như vậy. Tại hạ chỉ đi sau khi gặp mặt Cung chủ Bạch Thủy cung mà thôi. Bạch Thủy cung này có nhiều điều bí mật liên quan tới tại hạ. Bằng mọi giá tại hạ phải tìm hiểu những bí mật đó. Tại hạ chưa thể rời khỏi nơi này chừng nào còn chưa hiểu những điều cần hiểu.
Cô bản vương hỏi gã, chính câu gã hỏi cô bản vương trước đó :
– Đối phương đã quyết định như vậy?
Phương Bửu Ngọc cương quyết :
– Chắc chắn là như thế, thiếu nữ.
– Cậu không hối hận sau này?
– Tại sao tại hạ phải hối hận?
Nàng bản vương đáp :
– Vì nơi đây tất cả đều tàn khốc. Tất cả đều có thể khiến cậu tổn thương thống khổ. Cậu muốn đi cứ đi. Đi tới nơi sẽ hiểu. Tại đây có một con đường thông tới chỗ Bạch Thủy cung chủ.
– Đường đi không phải bên ngoài mà ngay trong nhà. Cô bản tọa đứng trước lối đi đó, nói :
– Cứ theo con đường này cậu sẽ gặp mặt Bạch Thủy cung chủ nương nương.
Phương Bửu Ngọc nói gì, làm gì, cũng cố chú ý tới vẻ mặt của nàng bản tọa.
Chàng muốn dò nét biến hóa nơi gương mặt cô ấy.
Và chàng đã thấy gương mặt lạnh lùng đó có sự thay đổi.
Sự biến đổi đó, là khi nàng lão phu nói mấy chữ Bạch Thủy nương nương.
Chừng như có một sự ám ảnh nào đó, hiện lên gương mặt nàng lão phu, khi nàng lão phu nói bốn tiếng đó.
Một sự oán hận. Tình cảm nàng ta đây đã chết theo cái chết của Tưởng Tiếu Dân, nhưng bây giờ lại còn đó sự oán hận. Tất cả, chỉ còn sự oán hận mà thôi.
Sự oán hận đó là sinh khí của cô ấy, sinh khí gắn liền u linh với cơ thể. Oán độc tiêu tan, sinh khí sẽ mất, u linh cũng rời xa trần thế.
Niềm oán hận đã đè nén ăn sâu từ lâu trong cô bản vương, có lẽ đã phát sinh lâu lắm, càng ngày càng lớn, tới hôm naỵ..
Nữ nhân ấy ở trong Bạch Thủy cung, hẳn nữ nhân ấy và Bạch Thủy cung chủ có một liên quan đặc biệt. Tại sao nữ nhân ấy lại hận Bạch Thủy cung chủ?
Chàng muốn hiểu ngay điều đó. Không còn thời gian nữa. Không thể chậm trễ. Chàng vòng tay đáp :
– Đa tạ cô gái chiếu cố chỉ điểm cho đường đi nước bước. Tại hạ xin cáo từ.
Nàng bản tọa khoát tay :
– Hãy khoan. Cậu không nên cảm tạ bản tọa. Bản tọa có việc yêu cầu cậu.
Chàng sững sờ.
Yêu cầu chàng? Việc gì mới được chứ? Nàng bản vương ở đây gần như biệt lập với đại lục bên ngoài, còn thiết gì mà yêu cầu chàng?
Cô ấy lạnh lùng tiếp :
– Bản vương nói, đối phương đáp ứng hay không đáp ứng cũng không sao.
Chàng hấp tấp :
– Bất luận việc gì tại hạ cũng chịu. in cô gái cứ nói.
Cô ấy hơi trầm ngâm :
– Trong lòng bản tọa có một nghi vấn. Chỉ có cậu có thể giải thích nghi vấn đó thôi.
Phương Bửu Ngọc nghiêm giọng :
– Chính thiếu nữ không giải thích được thì chắc là tại hạ vô năng rồi.
Nữ nhân trầm gương mặt :
– Lão phu biết ngươi lão phu giải thích được.
Phương Bửu Ngọc cau mày :
– Nghi vấn của thiếu nữ thuộc lĩnh vực nào?
Nữ nhân đáp :
– Võ công.
Chàng thoáng chốc :
– Võ công? Thiếu nữ lại thiết tha với võ công?
Nàng bản tọa không trả lời, chỉ tiếp :
– Từ ngày có tri thức tới nay, ta đây tự hỏi không biết trong võ đạo có chiêu nào mà bất cứ ai cũng không phá nổi?
Chàng ấp úng :
– Chuyện đó… tại hạ tưởng… trên thế gian này, từ cổ chí kim, chẳng có một ai giải đáp nổi.
Nàng ta đây lại tiếp :
– Có thể cậu đúng. Vấn đề đó chừng như nan giải vậy. Dù là có người nào đó giải được thì lão phu cũng làm sao biết, bởi lão phu suốt đời giam mình trong toà tiểu lâu tịch mịch này, xa rời nhân thế…
Chàng trầm ngâm một lát :
– Trên giang hồ xưa tới nay có biết bao nhiêu thế lực. Mỗi thế lực lại có một thần thông riêng. Nhưng chẳng có thần thông nào mà người bản tọa có thể hoành hành khắp thiên hạ. Giả như có một ngón nghề độc đáo, thế lực nào đó có thể tạm thời ngang dọc giang hồ, nhưng không có nghĩa là ngón nghề ấy độc nhất vô nhị không ai phá nổi. Thiếu nữ chắc cũng hiểu đạo lý đó chứ?
Nàng bản vương gật gật đầu :
– Lão phu hiểu.
Chàng cũng khẽ gật đầu :
– Thực vậy đó thiếu nữ. Tuyệt đối không thể có một chiêu nào không thể hóa giải.
Cô lão phu lạnh lùng :
– Tuy nhiên, biết là biết vậy, song chẳng có ai chứng minh được sự tuyệt đối đó
Phương Bửu Ngọc mỉm cười :
– Cái đó đã hẳn.
Cô lão phu lại nói tiếp :
– Bản vương biết, hay bản vương nghĩ vậy, cho nên ngày ngày bản vương cứ suy tư, nghiên cứu. Bản vương có sáng chế ra nhiều chiêu thức, song sáng chế ra rồi bản vương lại bỏ ngay, bởi chính bản vương cũng thấy rõ là những chiêu thức đó có nhiều sơ hở.
Bản tọa tự nhận thấy sơ hở thì bản tọa cần gì còn phải hỏi ai?
Phương Bửu Ngọc chú ý :
– Rồi sau đó?
Nữ nhân tiếp :
– Bản tọa gặp Tưởng Tiếu Dân. HẮN ở lại đây dưỡng bệnh một thời gian. Bản tọa xin hắn dẫn giải rõ những môn công phu, tuyệt chiêu của hắn cho bản tọa biết qua.
Phương Bửu Ngọc gật gật đầu :
– Không những thông minh tuyệt đỉnh, Tưởng Tiếu Dân là dòng dõi võ lâm thế gia. Tên đó biết hầu hết các môn công phu, chiêu thức của các phái lớn trên giang hồ. Kiến thức của tên đó rộng lắm.
Cô bản tọa nói tiếp :
– Những chiêu thức tên đó kể có một số giống với những chiêu thức do ta đây sáng chế ra, một số khác lại hoàn toàn bất đồng. Sau đó tên đó từ biệt ra, trở lại giang hồ. Còn lại mình ta đây đem những chiêu bất đồng đó phối hợp với những chiêu do ta đây sáng chế, chọn lấy tinh túy của các chiêu tạo thành một chiêu tổng hợp.
Phương Bửu Ngọc tặc lưỡi :
– Thiếu nữ thông minh hết sức, trên đời này chắc gì có người sánh kịp.
Cô ấy không để ý nói tiếp :
– Sáng chế ra chiêu tổng hợp đó ta đây phải mất một năm dài. Và ta đây tin rằng trong thiên hạ chẳng thế lực nào có một chiêu giống thế, hoặc giả có chiêu nào độc đáo hơn chiêu đó.
Phương Bửu Ngọc nhìn sững :
– Sao thiếu nữ chứng minh được điều đó?
Cô ấy giải thích :
– Bởi nếu trên đời này có chiêu đó thì nó đã vang danh khắp võ lâm từ lâu, đương nhiên, Tưởng Tiếu Dân cũng sẽ biết. Còn một điểm nữa. Phần nhiều những chiêu độc là những chiêu chuyên giết người, mà chiêu giết người thì lại không tuyệt đối, vì địch thủ có phòng bị trước những chiêu sau nữa. Các chiêu của bản tọa chính bản tọa cũng không biết cách hóa giải, người ngoài làm sao biết được. Chiêu của bản tọa không độc ở hình thức, địch dễ khinh thường. Nó hàm súc huyền cơ, mà nói tới huyền cơ thì quỷ thần cũng phải chịu thôi.
Nàng lão phu kết luận :
– Chiêu sát thủ của tất cả các môn phái, bản tọa hóa giải dễ dàng. Tưởng Tiếu Dân có thể biểu diễn cho bản tọa xem nên bản tọa dám tin chắc như vậy. Còn chiêu của bản tọa chỉ có mình bản tọa biết nó nên bản tọa dám quyết nó là độc đáo.
Phương Bửu Ngọc hết sức cao hứng :
– Chiêu đó cực kỳ ảo diệu phải không thiếu nữ?
Cô bản tọa trầm ngâm một chút rồi nói :
– Tự lão phu cũng không biết hóa giải chính chiêu lão phu nghĩ ra, song lão phu cũng không chứng minh được là không một người nào trên đời có thể phá nổi, bởi trong võ lâm ngày nay chỉ có một người là có thể chứng minh chiêu của lão phu có thể hóa giải hay là bất khả kháng mà thôi.
Phương Bửu Ngọc trầm giọng :
– Tại sao chỉ có tại hạ chứ không còn ai khác?
Nữ nhân đáp :
– Bởi vì cứ theo lời người giang hồ thì tựa hồ ngươi bản tọa là đương kim đệ nhất cao thủ trong võ lâm. Nếu ngươi bản tọa không hóa giải nổi chiêu của bản tọa thì chắc chắn không còn ai hóa giải nổi.
Phương Bửu Ngọc suy nghĩ một lúc rồi cao giọng :
– Với mọi sự việc trên đời thiếu nữ còn không quan tâm nữa, thì tại sao thiếu nữ lại muốn chứng thực chiêu kiếm đó? Hay thiếu nữ muốn dùng chiêu kiếm đó để đối phó với một người?
Cô bản vương điềm nhiên :
– Cũng có thể như vậy mà cũng không hẳn như vậy.
Chàng hỏi tiếp :
– Người thiếu nữ muốn đối phó là ai?
Cô bản vương lạnh lùng :
– Điều đó… đối phương không cần biết.
Phương Bửu Ngọc lại hỏi :
– Có phải là Bạch Thủy nương nương không? Thiếu nữ căm hận bà ấy đến thế à? Tại sao thiếu nữ lại căm hận bà ấy?
Nữ nhân ấy nhìn chàng, một lúc sau từ từ lùi lại :
– Ngươi bản vương đã đáp ứng yêu cầu của bản vương thì còn hỏi làm gì?
Phương Bửu Ngọc lặng người một hồi lâu rồi buông tiếng khẽ thở dài :
– Lấy kiếm đi, cô gái.
Ánh sáng chớp lên, trường kiếm đã rời khỏi vỏ.
Cô lão phu đâm mũi kiếm xuống chân Phương Bửu Ngọc, giữ mũi kiếm trong tư thế đó cách chân chàng độ ba thước. Phương Bửu Ngọc giật mình kêu lớn :
– Chiêu thức gì bất thường thế?
Nữ nhân ấy điềm nhiên :
– Là chiêu do bản vương sáng chế.
Phương Bửu Ngọc tròn mắt :
– Nhưng chiêu đó sao có thể hại được tại hạ? Bất cứ ai cũng không thể bị hại bởi chiêu này.
Nữ nhân ấy nói :
– Chính vì chiêu đó trước mắt không có vẻ làm thương tổn tới ai, cho nên không ai nghĩ tới cách hóa giải. Cũng vì chưa ai thấy một chiêu như thế.
Phương Bửu Ngọc sững người một lúc rồi nhếch mép cười khổ :
– Nhưng chiêu đó căn bản không cần hóa giải…
Nàng ta đây hừ một tiếng :
– Ai nói không cần hóa giải?
– Cần gì ai nói. Thấy là hiểu ngay.
Nàng bản tọa khẽ gật đầu :
– Được! Ngươi bản tọa xem đây!
Nàng bản vương từ từ thu trường kiếm về, rồi lại đâm theo chiều hướng cũ.
Đích xác chiêu đó không làm hại gì chàng được.
Nhưng ánh kiếm vừa chớp lên, chàng đột nhiên vừa ngả người vừa vọt xéo về phía sau, ngã ngồi xuống cách đó hai trượng.
Vẻ kinh hãi hiện rõ trên gương mặt chàng.
Nữ nhân ấy lạnh lùng :
– Chiêu đó không cần hóa giải phải không? Tại sao ngươi bản vương lại phải tránh đi?
Chàng còn chưa hết kinh sợ :
– Lợi… lợi hại thật! Bây giờ tại hạ mới thấy rõ sự lợi hại của nó.