Âm Dương Giới
Chương 4: Mạc Bắc tứ tuyệt
Kim Địch thần quần hét lớn :
– Lão phu không tin rằng giữa hai người hoàn không có liên hệ. Người như ngươi bản tọa không bao giờ có tâm địa như thế. Đó chẳng qua là những lý lẽ lừa bịp mà thôi. Lão phu quyết không chấp nhận được.
Niệp Sáp hòa thượng hét lớn :
– Mặc dù nó cùng ta đây có duyên chút đỉnh, nhưng đối với một đứa bé mới mười lăm, mười sáu tuổi đầu không gây nên tội lỗi gì mà nhà ngươi ta đây cũng không buông tha cho nó hay sao?
Kim Địch thần quần giận run, gầm lớn :
– Lão phu chỉ tiếc rằng không thể giết ngay cả giòng họ nhà cậu cho hả giận, đừng nói chi đến con nít hay người lớn…
Văn Thiếu Côn nghe nói giận sôi gan nghĩ thầm :
– “Lão Kim Địch thần quần này có bản lãnh cao siêu tuyệt thế, đáng lẽ phải có bụng dạ rộng rãi hào hiệp mới phải. Ngờ đâu hắn chỉ là phường tiểu nhân ty tiện, bụng dạ như hùm beo…”
Không dằn được cơn tức giận, chàng thét lớn :
– Lão thư thiền sư đừng lo cho cháu nữa. Cháu nghĩ rằng dù lão có nhận lời tha cho cháu, cháu quyết không đi đâu hết. Hễ sống cùng sống, mà chết cùng chết mới là người nghĩa khí.
Niệp Sáp hòa thượng nhìn chàng lắc lắc đầu không nói gì hêệ Kim Địch thần quần cười khanh khách nói :
– Kể ra ngươi bản vương cũng khá đấy, lão phu rất yêu mến những hạng người khí khái như thế. Chỉ tiếc nhà ngươi bản vương đối với lão Dã hòa thượng có ít nhiều liên hệ, nên không thể nương tay.
HẮN quay sang nhìn Niệp Sáp hòa thượng quát :
– Nhà đối phương có chịu vào trong miếu không?
Lúc bây giờ Niệp Sáp hòa thượng đã bỏ thái độ cười cợt khôi hài, nét mặt trở nên trầm ngâm và lắc lắc đầu than thở.
Hòa thượng không đáp, chỉ quay mình bước vào cổ miếu.
Văn Thiếu Côn thơ thẩn đi theo.
Đi vào trong thấy tòa cổ miếu rộng rãi hơn. Cả thảy có ba gian, đại điện nóc đã sụp, có nhiều lỗ hổng lộ thiên, ánh sáng mặt trời chói vào lồng lộng.
Rải rác trong chánh điện các tượng thần gãy đổ nằm ngổn ngang. Có lẽ đây là một tòa cổ miếu hoang phế lâu ngày không ai chăm nom hương khói.
Trước bàn thờ, trên một tấm bồ đoàn có một người đang ngồi tham thiền nhập định, đôi mắt nhắm kín. Người ấy mặc toàn gã phục đen, quần đen, áo đen, giày mủ cũng đen luôn. Trái lại râu tóc của gã bạc phếu như một mớ tuyết, trông tuổi vào khoảng tám mươi.
Vừa trông thấy người này Văn Thiếu Côn giật mình chấn kinh suýt kêu lên.
Điều làm chàng hoảng sợ không phải sắc diện, tên đó phục hay tuổi tác mà là một luồng sáng xanh chập chờn trước lổ mũi. Luồng ánh sáng lóng lánh như làn tinh sương theo hơi thở chạy ra thụt vào, dài chừng ba tấc.
Văn Thiếu Côn tuy có kiến văn khá nhiều, nhưng chàng chưa đủ khả năng để nghĩ rằng một cao thủ thượng thừa của võ lâm có đủ sức đào luyện và kết tụ tam muội hỏa thành hình như ông lão này.
Văn Thiếu Côn nghĩ bụng :
– “Không biết lão già này có quen biết kết thân cùng Kim Địch thần quần hay không. Nếu không phải người đồng bọn với chúng thì biết đâu lão sẽ giúp mình cũng nên”.
Nhưng bao nhiêu hy vọng tiêu tan ngay khi vừa nghe Niệp Sáp hòa thượng dùng truyền âm nhập mật nói bên tai :
– Lão già này là Ô Trúc thần quân, cùng với Kim Địch thần quần là bạn thân đấy.
Hòa thượng tha thiết bảo thêm :
– Cháu ơi, hôm nay chúng ta đây gặp dữ nhiều lành ít.
Tiếng nói có vẻ thiết tha âu sầu, hầu như tuyệt vọng. Văn Thiếu Côn càng nghe càng xót xa đớn đau.
Chàng gạt lệ nói lớn :
– Người sống chết chỉ một lần, dù ai ai cũng có phần số. Lão thiền sư, một cao nhân của nhà Phật hà tất phải bi quan tính toán về sự may rủi, được thua.
Cháu nguyện mạnh dạn chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng, mặc tình cho số phận.
Niệp Sáp hòa thượng vỗ tay cười lớn nói :
– Hay lắm, hay lắm! Thằng bé này mới đáng khen. Như thế thì…
Ngay lúc đó, Ô Trúc thần quân vụt đứng dậy thét lớn :
– Dã hòa thượng, hôm nay cậu chết không đất chôn thây.
Niệp Sáp hòa thượng cười lớn :
– Nếu lão phu chết rồi mà được một bọc vàng của thiên hạ cúng đường, quanh năm hương khói thì cũng chả cần đến đất chôn thây nữa.
Ô Trúc thần quân quay sang Kim Địch thần quần nói :
– Hiền đệ, lão hòa thượng này lắm điều xảo ngôn đáng ghét, hiền đệ nên xử trí thế nào cho khuất mắt.
Kim Địch thần quần đáp :
– Tùy hiền huynh muốn ban cho gã lối chết nào cũng được.
Ô Trúc thần quân nói :
– Thôi, cảm phiền hiền đệ cho chúng nghe điệu nhạc thứ ba “Tinh trầm nguyệt ẩn”.
Kim Địch thần quần nói :
– Tiểu đệ cũng dự định như thế rồi, khúc “Tinh trầm nguyệt ẩn” này sẽ làm cho chúng đứt rời từng khúc ruột, sau cùng tim nát khí khô, chịu đựng sự khổ đau dày vò của thể xác suốt bốn giờ mới chết được. Thật là một cái chết xứng đáng cho tội lỗi của hắn bản vương đã gây nên.
Không cần nghe gì nữa, Kim Địch thần quần đưa sáo lên muốn thổi ngay.
Lão vận khí truyền nội lực vào lỗ sáo. Lúc đầu không nghe tiếng kêu, chỉ thấy một luồng khí trắng từ lỗ sáo phát ra, thẳng tắp lên cao, tỏa đi khắp nơi rồi lát sau nghe văng vẳng tiếng nói từ đàng sau dội lại, lớn dần.
Tiếng sáo nổi lên chầm chậm, mau dần, dồn dập như thác lũ nước tràn, tiếng nói cao vút như muôn ngàn mũi kim châm vào màn tai, như ớt xát vào mạch máu.
Niệp Sáp hòa thượng và Văn Thiếu Côn vừa nghe tiếng sáo bỗng mồ hôi toát đầy mình, đôi mắt nổi vang, ruột quặn đau từng khúc. Chập sau tất cả đều run lên bần bật, các trọng huyệt như có muôn ngàn con kiến đang bâu cắn khó chịu hết sức.
Tiếng sáo vút cao, hai người cong người dẫy dụa như không chịu nổi với sự thống khổ của thể xác.
Nhưng lạ thay, một chập sau hai người cảm thấy bớt đau dần và mồ hôi ít đổ ra như trước.
Cả hai nhìn nhau ngạc nhiên và chờ đợi một sự biến chuyển quái dị.
Tiếng sáo cứ tiếp tục tuôn ra như hành vân lưu thủy, lúc khoan lúc nhạc, thánh thót nhịp nhàng. Kim Địch thần quần vừa thổi vừa lim dim đôi mắt, đương đem hết công lực và tinh thần vào điệu nhạc giết người này.
Văn Thiếu Côn ngơ ngác không hiểu gì hết. Chàng nghĩ bụng :
– “Tiếng sáo này chỉ nguy ngập lúc mới bắt đầu thôi. Nhưng về sau chẳng còn ảnh hưởng gì ráo. Nếu vậy thì Kim Địch thần quần cũng chỉ có tiếng mà chẳng có thực tài, đâu đáng sợ”.
Nghĩ đến đó, chàng nhìn qua thấy Niệp Sáp hòa thượng cũng lộ vẻ băn khoăn không khác gì mình.
Thình lình Ô Trúc thần quân cất tiếng nói :
– Hiền đệ có thể tạm ngừng một chút xem sao?
Kim Địch thần quần nhắm tít đôi mắt chăm chú vào điệu sáo, không hề biết phản ứng hiện nay ra sao. Đến chừng Ô Trúc thần quân gọi mới giật mình, ngừng thổi, mở mắt nhìn xung quanh.
Theo lão đoán, khi nghe đến đoạn này dù hai người chưa chết cũng phải lăn lộn quay cuồng trên mặt đất vì âm hưởng của tiếng sáo.
Kim Địch thần quần lúc mở mắt nhìn lại thấy cả hai điềm nhiên ngó mình, tựa hồ như đang thưởng thức giọng sáo.
Kim Địch thần quần hết sức ngạc nhiên há hốc mồm, chẳng biết tại sao như thế.
Niệp Sáp hòa thượng nhe răng cười khà khà, nói :
– Khúc nhạc này quá du dương thánh thót, nghe như thần tiên thoát tục, khiến hòa thượng này cảm thấy muốn quên hết thù hận. Sao nhà đối phương không tiếp tục thổi thêm một lúc nữa?
Kim Địch thần quần vừa ngạc nhiên vừa sửng sốt, nói lớn :
– Hòa thượng, nhà cậu dựa trên năng lực nào mà vô hiệu hóa võ công vô thượng của bản vương, hãy đáp mau.
Niệp Sáp hòa thượng cười ha hả :
– Hòa thượng bản tọa biết thế nào mà trả lời cho vừa ý ngươi bản tọa, có lẽ bản tọa là La Hán tái sinh, tâm hồn đã thoát tục nên mới không bị ảnh hưởng của bọn tà ma quỷ quái luôn cuốn.
Kim Địch thần quần nói :
– Vô lý, dù nhà đối phương là La Hán tái sinh vẫn phải chết trước uy lực khốc liệt của điệu sáo này như thường.
Tên đó quắc mắt nhìn Văn Thiếu Côn nói luôn :
– Còn thằng bé con này! Chả lẽ mi cũng là một La Hán tái sinh?
Niệp Sáp hòa thượng vỗ đùi cười lớn :
– Hay là chiếc sáo của nhà ngươi bản tọa đã hỏng rồi chăng?
Kim Địch thần quần đưa chiếc sáo vàng lên ngắm nghía một chập định thổi nữa.
Ô Trúc thần quân nói :
– Này hiền đệ, hay là có cao nhân nào đang ẩn tàng trong miếu chăng?
Chứ lẽ nào sáo hỏng hay anh em mình thiếu chu đáo?
Kim Địch thần quần từ từ đứng dậy, cầm chiếc kim địch đưa mắt nhìn khắp nơi trong tòa cổ miếu.
Thình lình lão bước tới thi triển thần lực vào tay phải, đưa sáo điểm thẳng vào khám thần đàng sau.
Một luồng kình lực từ chiếc sáo vàng xẹt mạnh vào bục gỗ. Nếu phàm thường thì sức mạnh ấy có thể hoàn toàn đập nát khám thờ ra tro bụi ngay.
Nhưng trường hợp này hoàn toàn trái hẳn sự ước đoán của mọi người.
Luồng kình lực như vũ bão vừa chạm bục gỗ bỗng tan bién một cách vô hình không tí bụi bay, không một tiếng động.
Kim Địch thần quần tái mặt nhìn Ô Trúc thần quân khẽ nói :
– Sư ca thử lại xem như thế nào, đệ ngại quá…
Ô Trúc thần quân cũng mất hết bình tình, khẽ đáp :
– Cao nhân này nhất định bản lãnh phi thường, chúng bản vương không nên vội vàng khinh xuất mà thất lễ.
Nói xong gã hướng về khám thần vòng tay nói :
– Nếu có cao nhân nào giá lâm xin ra mặt để tại hạ được hân hạnh diện kiến.
Ngay lúc ấy có tiếng cười khúc khích vang lên, rồi một bóng người mảnh mai ẻo lả từ phía sau hiện ra.
Mọi người trông thấy đều ngạc nhiên cực độ.
Thì ra cao nhân ấy chỉ là một cô gái tuổi độ mười ba mười bốn, mặc áo hồng, tóc thế phủ chấm ngang vai, mặt sáng rỡ như trăng rằm, đôi môi đỏ mộng, má phinh phính trông thật dễ thương.
Cô gái từ từ bước lại, nét mặt hớn hở như hoa, vừa đi vừa dùng vạt áo phủi bụi, dáng điệu thật mềm mại và tự nhiên.
Kim Địch thần quần vừa trông thấy nữ nhân ấy bỗng chau mày hỏi :
– Có phải cô gái đã phá tiếng sáo của lão phu vừa rồi chăng?
Nữ nhân ấy cười khúc khích khiến hai đồng tiền in sâu trên má rồi đáp :
– Đâu có, sao lão tiền bối lại nói thế. Điệu sáo của ngài thổi hay lắm, sao không tiếp tục thổi thêm cháu nghe với.
Nói xong cô ấy nheo mắt hóm hỉnh nhìn mọi người nói :
– Trông các người thật là kỳ dị. Hai vị này kẻ trắng người đen, vừa trông qua ngỡ là hai pho tượng trong miếu này. Đại hòa thượng đây có phải Phương trượng chùa này không. Nhìn hòa thượng ăn mặc như thế chả trách nào trong miếu đâu đâu cũng bụi phủ nhện giăng. Mình mẩy đại sư bẩn như thế kia thì miếu làm sao sạch cho nổi.
Nhìn Văn Thiếu Côn, cô ấy nói tiếp :
– Duy có cậu này còn trông ra người đôi chút, huống chi…
Nữ nhân ấy nói đến đó bỗng nín thinh, đôi má ửng hồng có vẻ e thẹn.
Kim Địch thần quần, Ô Trúc thần quân đều là những tay nhiều kinh nghiệm giang hồ, kiến văn rộng, cũng không ngờ lại gặp một tình huống như thế này.
Ngập ngừng một lát, Ô Trúc thần quân hỏi :
– Chẳng hay tôn danh quý tánh là chi, lệnh sư của cô gái tên gì?
Thiếu nữ trẻ chẩu miệng cười rồi đáp :
– Tôi tên là Tề Mãn Kiều, không có sư phụ nào cả.
Kim Địch thần quần ngạc nhiên quá, hỏi lại :
– Không có thầy ư? Vậy võ công của cô gái do ai truyền thụ?
Tề Mãn Kiều chúm môi nói :
– Tôi có võ công, văn công gì đâu, sao các ông hay hỏi những điều vu vơ như vậy?
Kim Địch thần quần lưỡng lự chưa biết xử trí ra sao, phục thì không thấy có gì đáng phục, khinh cũng chẳng dám khinh vì nhớ lại khúc tiêu không tác dụng và chưởng phong bị tan biến trong vô hình vừa rồi.
Lão quay sang hỏi Ô Trúc thần quân :
– Đại huynh, chúng mình nên đối phó như thế nào đây?
Ô Trúc thần quân khẽ hỏi lại :
– Hiền đệ xem cô bé ấy thế nào?
Kim Địch thần quần vội đáp :
– Đại huynh thấy có gì đặc biệt không? Phần tiểu đệ hơi nghi ngờ.
Đắn đo một chút, Kim Địch thần quần nói tiếp :
– Tiểu đệ nghi nàng ta đây ta đây có thể là một trong bốn người núi Trường Bạch.
Ô Trúc thần quân khẽ gật đầu :
– Có lẽ đúng.
Kim Địch thần quần vừa nghĩ đến đó đã thấy lo ngại, nên hỏi cô gái áo hồng :
– Chẳng hay thiếu nữ đến đây có điều gì cần chăng?
Tề Mãn Kiều đáp :
– Tôi đi có tý việc. Tuân lệnh chị hai tôi, tôi đi tìm một người, mà người ấy hiện đang có mặt ở đây.
Nói xong nàng lão phu đưa tay trỏ vào Văn Thiếu Côn.
Kim Địch thần quần kêu lên một tiếng nhẹ, rồi nói :
– Nếu cần tên đó, cô gái cứ tự tiện mang tên đó đi.
Tề Mãn Kiều cười để lộ hai hàm răng trắng muốt :
– Lão tiên sinh nói nghe dễ chịu quá nhỉ?
Kim Địch thần quần cười đáp :
– Chú bé này đối với anh em chúng tôi chẳng có gì liên hệ, nếu thiếu nữ cần cứ dẫn hắn bản tọa đi.
Văn Thiếu Côn vừa buồn vừa tức mình. Chàng đâu ngờ bỗng nhiên mình trở thành một món hàng cho người bản tọa sang qua nhường lại.
Chàng còn đang thắc mắc bỗng nghe Tề Mãn Kiều nói tiếp :
– Hôm nay chị hai tôi đang tìm kiếm người này, gặp được tôi cứ đem đi, cần chi phải hỏi đến chuyện bằng lòng hay không bằng lòng.
Kim Địch thần quần vội đáp :
– Thiếu nữ cứ tự nhiên, lão phu có dám nói gì đâu.
Nàng bản vương mỉm cười đứng dậy nói :
– Thôi, tôi xin chào các ngài.
Quay lại Văn Thiếu Côn, cô ấy bảo :
– Thôi, đứng dậy đi cho mau.
Văn Thiếu Côn bất mãn quá nhưng chưa biết nói sao, chỉ lặng thinh không thèm đáp lại.
Tề Mãn Kiều nổi cáu, gắt :
– Ơ kìa, cậu này điếc sao?
Văn Thiếu Côn hứ một tiếng, chẳng thèm ngó ngay cô bản vương, đáp :
– Không, tôi không điếc.
Tề Mãn Kiều nổi nóng hỏi :
– Không điếc sao chẳng đứng dậy đi.
Văn Thiếu Côn hỏi :
– Đi đâu?
Nàng lão phu trợn mắt nói :
– Bản tọa muốn đưa ngươi bản tọa về cho chị Hai bản tọa. Sau này tùy chị ấy muốn xử trí thế nào tùy ý, bản tọa không biết được.
Nói xong nữ nhân ấy cười xòa, ngọt ngào bảo :
– Cứ đi đi, ta đây dám bảo đảm không hề gì đâu mà ngại.
Văn Thiếu Côn hừ một tiếng, nói :
– Tôi đường đường một trang nam tử, đi phải có lý do rành mạch phân minh.
Tôi không bao giờ để cho một người con gái nhỏ muốn dắt đi đâu thì dắt được.
Tôi với chị hai nàng bản vương không hề quen biết, chuyện gì tôi phải tuân theo nàng bản vương đến tìm chị ấy. Tôi quyết không thể làm vừa lòng nàng bản vương được.
Tề Mãn Kiều nghe nói lùi lại một bước, vút qua luôn mấy cái nhìn chàng nói :
– Anh này có lẽ điên rồi chăng?
Rồi nữ nhân ấy cau đôi mày liễu suy nghĩ :
– “Chuyện này quả rắc rối thật. Phải giải quyết thế nào cho tròn đây. Anh chàng này có vẻ gàn bướng lắm. Nếu cứ giằng co hoài rất bất tiện. Chả lẽ cưỡng bách người bản tọa ư?”
Nàng bản tọa đang phân vân, Niệp Sáp hòa thượng dùng thuật truyền âm khẽ bảo Văn Thiếu Côn :
– Đây là cơ hội tốt nhất để cháu trốn thoát nơi này. Hãy tuân theo cô ấy mà đi cho rồi.