Ân Thù Kiếm Lục
Chương 1: Người áo trắng

Cập nhật lúc: 2026-08-30 01:45:19 | Lượt xem: 19

Gió lạnh xé thịt da như dao cắt, từng đụn mây dày đặc cuộn chụp lên nhau…

Bên bờ Bột Hải sóng biển ì ầm, đợt đợt nối tiếp phủ lên gành đá…

Rốp!…

Một đợt sóng nhào lên, đẩy chiếc buồm đập vào ghềnh đá phát lên một tiếng khô khan, cột buồm gãy làm đôi tụt ra theo sóng nước.

Mặt biển đen ngòm vụt lóe lên hai ánh ngời ngời như hai vì sao lấp lánh di động lần lan vào bờ biển.

Nếu có ai chợt thấy nhất định sẽ cho đó là đôi mắt của Thần Biển báo hiệu cho nhân gian biết trước cơn thịnh nộ của phong ba…

Nhưng không, hai đóm sáng cao dần khi sát đến bờ, và khi đợt sóng cao nhất tụt xuống, hiện ra một người vận áo trắng, tóc lõa xõa phủ vai đứng thẳng mình lên, đôi mắt ngời chiếu sáng…

Thanh trường kiếm vỏ đen óng ánh được nắm chặt trong bàn tay trắng muốt, nhiều đường gân xanh rờn nổi lên cuồn cuộn, bộc lộ nội lực của kẻ cầm gươm và đồng thời cũng nói lên rằng giữa sóng biển muôn trùng dồn dập, người ấy bằng lòng bỏ tất cả những gì trên cõi đời này, chỉ trừ thanh trường kiếm ấy mà thôi!

Rõ ràng người áo trắng là kẻ bị đắm thuyền, nhưng không biết từ nơi đâu và từ lúc nào, đã nắm chặt thanh gươm vượt sóng nước vào bờ…

Chân đặt lên bãi cát chưa được mấy bước, thân ảnh người ấy vùng lảo đảo, nhưng chỉ thoáng qua, người áo trắng đã đứng thẳng mình lên một cách vững vàng, tia mắt như hai vì sao chiếu thẳng.

Tên đó vừa đi vừa móc trong lưng ra một túi vải dầu, từ trong đó tên đó lấy ra một tấm địa đồ và nhiều hàng chữ ghi chi chít.

TÊN ĐÓ xem qua và cuốn lại cho vào túi cẩn thận, vừa đi vừa lẩm bẩm :

– Lao Sơn… Phi Hạc môn Thanh Hạc Liễu Tòng…

Hắn lão phu cứ bước đều không để ý mọi vật chung quanh, nhưng lạ làm sao, nếu có ai đem thước ra đo dấu chân của hắn lão phu, chắc chắn sẽ chấn kinh hết sức, vì mỗi bước cách nhau đúng gã một thước bảy tấc, không bước nào xê xích một ly!

Cứ như thế, tên đó thẳng đến Phi Hạc môn.

Phi Hạc môn, một trang trại dưới chân Lao Sơn nằm chắn miền Đông Lỗ. Nó là một cơ nghiệp, một tông phái võ lâm, được dựng lên bởi bàn tay của Thanh Hạc Liễu Tòng, một nhân vật thành danh suốt bốn mươi năm mà Thập thất Hạc Trảo, Hóa Hạc chưởng và Hạc Vũ châm được thiên hạ mệnh danh là Tam tuyệt, một cái tên chấn động giang hồ.

Mặt trời đã xế sau rặng núi, người áo trắng không mau không chậm, bước đi vẫn đúng tên đó một thước bảy tấc, thẳng vào Phi Hạc môn, đầu tóc vẫn lòa xòa quái dị…

Hai cánh cửa gỗ thật dày sơn màu đỏ chói đóng chặt im ỉm. Người áo trắng bước thẳng qua cùng một lượt với khung cửa đổ. Nếu không để ý, có thể nghĩ rằng tại khung cửa đổ người ấy bước qua, chứ không ai tưởng tượng được rằng kình lực từ bước đi của tên đó đã làm cho khung cửa kiên cố ấy tróc ra một cách quá dễ dàng.

Bên trong, dưới hàng cổ thụ, có nhiều thanh niên đại hán, có lẽ là đám lực sĩ giữ cửa, thấy tình huống dị thường, cùng đứng phắt lên và cùng há hốc mồm chấn kinh…

Như không cảm thấy việc làm của mình gây ra khinh động, người áo trắng cứ bước đều tới trước mặt đám đại hán và dừng lại nói bằng một cách chậm rãi từ từ :

– Liễu Tòng ở đâu? Gọi tên đó ra đây!

Tiếng nói từng tiếng một rõ ràng lắm, nhưng người nghe vẫn thấy lạ, gã như người nói có gì chận trong cổ họng lúc phát âm, một giọng nói bất thường.

Đám đại hán có lẽ là cao thủ Phi Hạc môn, và có lẽ phàm thường họ cũng là tay kiệt liệt, nhưng lúc bấy giờ, lúc người áo trắng xuất hiện, họ bỗng đâm ra tái mặt, họ lừ mắt ra hiệu cho nhau và chậm rút lui.

– Chuyện gì mà kinh hoàng thế?

Tiếng quát như chuông gióng, làm cho đám đại hán đang hớt hải thụt lui vụt quay mình lại. Một lão già mặc cẩm bào, râu tóc bạc phơ đứng sững trước bệ thần.

Một trong đám đại hán cúi đầu run rẩy :

– Thầy… Thầy hãy xem… quỷ…!

– Nói bậy!

Lão già tóc bạc cau mày rầy át, nhưng ánh mắt ông bản tọa cũng hơi ngạc nhiên trước trạng thái dị kỳ của người áo trắng.

Tuy nhiên, vẫn còn đúng phong độ của kẻ hào hùng, lão già tóc bạc vòng tay cố tạo vẻ ung dung :

– Bằng hữu là ai? Chẳng hay có chuyện chi quá bước đến tệ môn?

Người áo trắng bước từng bước một và cất tiếng nói lạ lùng :

– Ông là Liễu Tòng?

Thanh Hạc Liễu Tòng đúng là lão già tóc bạc, ông bản vương vẫn giữ vẻ ôn tồn :

– Vâng, Liễu Tòng chính là lão phu!

Người áo trắng khẽ khẽ gật đầu :

– Tốt, tuốt kiếm ra!

Liễu Tòng nhướng mắt :

– Bạn hữu và họ Liễu này có thù oán ra sao?

Người áo trắng trả lời đặt một :

– Không!

Liễu Tòng nhếch môi cười :

– Vốn không từng quen biết, lại không có oán thù, thế tại sao mới gặp nhau lại đòi so kiếm?

Người áo trắng lạnh lùng :

– Thế ai bảo ông thành danh một bậc võ sư?

Liễu Tòng vặn lại :

– Chẳng lẽ những nhân vật thành danh trong chốn võ lâm, các hạ cũng đều cùng quyết đấu cả sao?

Môi điểm nụ cười kỳ dị, người áo trắng đáp từng tiếng một :

– Đúng, nhắm danh nhân trong võ lâm hiếu chiến, đó là mục đích của ta đây đến miền Đông này vậy!

Sắc diện đã dị kỳ, phát âm lại càng kỳ dị, cộng thêm nét cười quái lạ, người áo trắng quả là một kẻ quái dị.

Một luồng ớn lạnh chạy dài trong xương sống, nhưng Thanh Hạc Liễu Tòng vẫn ngửa mặt cười ha hả :

– Lấy sức của một mình, hướng thiên hạ võ lâm khiêu chiến, tri kỷ… tri kỷ định nói đùa đấy chứ?

Sắc mặt của người áo trắng vẫn lạnh như băng, hắn nói từng tiếng một :

– Tuốt kiếm ra!

Là một kẻ thành danh hiệp nghĩa và cũng là một người mà võ lâm nể mặt tôn sùng, sự việc xảy ra tuy rằng vô cớ nhưng dù sao sự khinh lờn đó cũng không dung thứ được. Thanh Hạc Liễu Tòng khẽ liếc ra sau, nhanh chóng môn hạ hối hả dâng binh khí.

Món binh khí hơi có vẻ lạ thường, nó là một cặp côn ngắn, trên đầu giống như bàn tay úp khum khum năm móng ló ra hắn như móng hạc. Cặp Hạc Trảo này đã giúp Liễu Tòng danh dậy giang hồ, nhưng hiện tại trước một trạng huống lạ lùng do một nhân vật lạ lùng mang lại, làm cho đầu Hạc Trảo trên tay họ Liễu chợt thấy rung rung.

Tréo theo chữ Thập, một tay quày ngang, một tay trầm hẳn xuống, Liễu Tòng gằn giọng :

– Trừ Thập thất Hạc Trảo ra, trong này còn tàng ẩn Hạc Vũ châm chuyên đánh vào huyệt đạo, xin tri kỷ hãy lưu ý cho!

Trước hết nói rõ chỗ diệu dụng của món binh khí độc môn của mình, thâm ý của người lãnh tụ Phi Hạc môn không muốn âm thầm chiếm lấy thượng phong, đúng là con người chính đại. Và mở đầu bằng chiêu thức Thập Tự Giá bộc lộ đầy khí lực tiến có thế công, thối có thế thủ, họ Liễu đã giáo đầu một thế quá đỗi đẹp mắt.

Tia mắt nhìn như xoi vào cặp Hạc Trảo, người áo trắng khẽ gật gù :

– Nghe Trung Nguyên gần đây thêm mười ba món binh khí lạ lùng, không dè chạm chiến lần đầu khi đến miền Đông đã gặp ngay một món!

– Xin mời!

Khẽ gắt lên một tiếng, Liễu Tòng vụt thay đổi chiêu thức trảo bên trái đưa ra trước, trảo bên phải kéo ra sau, chân trái hơi co, chân phải duỗi thẳng lướt mình tới nhanh như gió cuốn.

Người áo trắng vẫn đứng thẳng mình như trụ, chẳng những trường kiếm không rút ra khỏi võ, mà đôi mắt lại sụp lim dim như một nhà sư nhập định.

Đảo luôn hơn mười bận, bao nhiêu lần dợm định tấn công nhưng thấy tư thế dị kỳ của người áo trắng làm cho Liễu Tòng chưa dám ra tay…

Màn đêm đã hoàn toàn phủ xuống, vầng trăng rọi ánh mập mờ, người áo trắng vẫn bất động như một bóng ma rờn rợn…

Vầng trán cao rộng của Liễu Tòng lấm tấm mồ hôi.

Hàng cao đệ Phi Hạc môn há hốc mồm quan sát, từng nhịp tim đập mạnh, không khí đứng lại nặng nề.

Đột ngột, Liễu Tòng hú lên một tiếng như xé màn đêm, hai tay trảo nhoáng chóa mắt.

Thân ảnh Liễu Tòng vừa di động, bóng người áo trắng cũng cùng một lúc chớp lên. Hai bóng người như nhập một vào nhau xẹt thẳng lên như ngọn pháp thăng thiên và từ từ dạt ra rơi xuống.

Liễu Tòng trợn trừng đôi mắt, một đường máu ngay giữa Tam Tinh chạy dài xuống sóng mũi, rọc thẳng một đường tới rún, thẳng băng như sợi chỉ căng dài.

Chỉ một thoáng chốc, ruột gan theo máu trào ra, Liễu Tòng từ từ bật ngửa.

Thanh trường kiếm trên tay người áo trắng hơi chúc nghiêng xuống đất, máu từng giọt nhỏ xuống ròng ròng.

Những kẻ đứng ngoài, khoé mắt trừng như muốn rách ra vì kinh dị.

Họ đều là hạng cao đồ Phi Hạc môn, võ công đều là bậc thành danh trong thiên hạ miền Đông Lỗ. Thế mà, không một ai thấy kịp người áo trắng đã sử dụng chiêu thế gì, cả đến việc tuốt kiếm ra khỏi vỏ bao giờ, họ cũng không nhận thấy.

Chỉ đến khi hai bóng người dang ra và dừng lại thì mới hay rằng thầy của họ đã tử thương, và điều kinh dị hơn hết là lối đánh của người áo trắng chỉ có một kiếm thôi, mà lại là một kiếm rọc thẳng băng như thước kẻ.

Đảo cặp mắt như điện lạnh qua khắp một vòng, người áo trắng chậm chạp tra gươm vào vỏ và quay mình đi thẳng ra ngoài, thần thái ung dung như lúc đi vô, và mỗi bước đúng gã thước bảy tấc.

– Ác tặc, trả mạng cho thầy bản vương!

Tiếng thét ré lên quá đỗi bi thiết, một trong hàng cao đệ Phi Hạc môn nhún mình phóng vút theo.

Tiếp liền theo bốn người nữa, cũng trong hàng đại môn sinh của Liễu Tòng cùng một lượt ập ra…

Cả năm người ánh mắt đỏ rực vì đau thương, vì căm hận quyền chưởng cùng một lúc ập thẳng vào người áo trắng.

Công lực của họ quá đỗi thâm hậu, tuy không thể nói là nhất nhì trong vùng Đông Lỗ, nhưng được trui rèn công phu tại Phi Hạc môn, cả năm người nhập lại kình phong cuốn tới như nước vỡ bờ.

Người áo trắng vẫn ung dung đi tới, thanh trường kiếm chậm chạp rút ra khỏi vỏ và loáng ngược ra sau.

Một tiếng rú rạp lên, năm người cao đệ Phi Hạc môn ngã ngửa ra sau nhất loạt.

Không thể nhìn thấy kịp, một đường kiếm đưa ra sau lưng, nhưng lạ làm sao cùng một lúc, lại tẻ ra năm ngã, và thật là ngoài sức tưởng tượng của mọi người, năm người cao đệ Phi Hạc môn mỗi người đều bị một nhát kiếm đúng ngay giữa trán, rạch thẳng một đường xuống rún hắn như cái chết của Liễu Tòng.

Người áo trắng vẫn từng bước một đi luôn không hề quay lại, máu từ mũi kiếm rỏ xuống từng giọt theo đường.

Tất cả môn đệ Phi Hạc môn đều cảm thấy như chân mình mềm nhũn, không một ai nhấc được bước nào.

Tuy nói là từng bước nhưng chỉ thoắt cái, người áo trắng đã vọt ra ngoài mười trượng, và gã như không nghe thấy tiếng rú, gã như không hề hay biết đằng sau thêm năm mạng lìa đời.

HẮN vừa đi vừa rút cuộn giấy ra lẩm nhẩm :

– Mồng bảy tháng mười: Thanh Hạc Liễu Tòng. Mồng tám tháng Mười: Song Hoàn Triệu Sĩ Hồng. Mồng chín tháng Mười: Bát Tiên Kiếm Lý Thanh Phong. Mồng mười tháng Mười: Bát Thủ Phiến Kim Đại Phi.

Mười một tháng Mười: Tế Nam Bạch Tam Không…

Một trận gió cuốn mạnh qua, mây xám hụp xuống và từ không trung mưa trút ào ào, gió mưa từng chập rít lên, như báo hiệu hạn thác xuống của những kẻ có tên trong sổ…

* * * Mười một tháng Mười.

Tại phủ Tế Nam, bầu trời u ám, mây đen giăng thấp, báo hiệu một cơn mưa to sắp đổ xuống thành. Trên con đường cái, từ xa tiến đến hơn mấy mươi người vận tang phục hộ tống bốn cỗ xe, mỗi cỗ xe tải một quan tài.

Đoàn xe tang đó từ hướng Đông đến Tế Nam, qua cửa thành theo đại lộ tiến vào, dừng lại trước cổng một tòa nhà vĩ đại.

Nơi cổng, có tám đại hán vận gã phục đen, chừng như đứng sẵn tại đó từ lâu, chực chờ nghinh đón.

Người trong đoàn xe tang cũng như người tại cổng đều ngưng trọng thần sắc, ai ai cũng có vẻ vừa bi thương vừa phẫn hận.

Những người vận tang phục kề vai khiêng quan tài, theo tám đại hán áo đen qua cổng vào sân thẳng đến đại sảnh.

Nơi thềm đại sảnh có một lão nhân, thân vóc cao lớn, năm chòm râu dài, buông thõng qua ngực, vận áo rộng đen, tướng mạo hết sức thanh kỳ, đứng lặng nhìn họ.

Những người vận tang phục vừa trông thấy lão nhân, đồng đặt quan tài xuống, rồi đồng khóc rống lên, vừa khóc vừa gào :

– Bạch lão tiền bối ơi! Xin tiền bối nghỉ đến niềm thâm giao ngày cũ, tìm cách báo thù cho gia sư!

Lão nhân áo đen, trầm trầm gương mặt, từ từ bước xuống từng bậc thềm, từ từ vẫy tay, vừa ra hiệu cho bọn người vận tang phục đang quỳ mọp trên sân đứng lên, vừa bảo họ giở nắp quan tài.

Xác chết nằm trong quan tài không đắp đ**m gì cả. Xác nào cũng mang một vết thương như nhau, vết thương do mũi kiếm quét từ giữa đôi mày ngang qua mũi xuống bụng. Nạn nhân mở trừng đôi mắt tuy còn màu trắng dã, nhưng khí hận bốc bừng.

Lão nhân áo đen chẳng để lộ một xúc động nào trên gương mặt, chỉ ngẩng đầu nhìn tám đại hán áo đen, bảo :

– Đóng cổng lại, đứng bên ngoài canh giữ, không để cho một ai ra vào!

Tám đại hán cúi đầu lãnh lịnh trở ra ngoài, đóng trái cánh cổng lại.

Lão nhân gầm đầu nhìn xuống đát, chấp tay sau lưng đi tới đi lui mãi, vừa đi vừa lẩm nhẩm một mình :

– Thanh Hạc Liễu Tòng, Song Hoàn Triệu Sĩ Hồng, Bát Tiên Kiếm Lý Thanh Phong, Bát Thủ Phiến Kim Đại Phi! Tất cả bốn người, trông mấy ngày liên tiếp bị sát hại! Hừ! Hừ, một sự kiện hi hữu trong võ lâm.

Nếu chẳng mắt thấy, tất khách giang hồ dù tai nghe cũng không ai tin nổi! Phải! Còn ai tin nổi một sự kiện như thế lại có thể xảy ra chứ?

Lão nhân áo đen là ai?

Lão là Minh Chủ võ lâm toàn hạt Sơn Đông họ Bạch tên Tam Không, ngoại hiệu Thanh Bình kiếm khách, từng nổi danh trên giang hồ là tay độc nhất vô nhị về kiếm pháp cũng như quyền thuật.

Lão cùng bọn Thanh Hạc Liễu Tòng là chỗ bằng hữu thâm giao, do đó sau khi các vị ấy tử nạn, bọn môn đồ mới đưa thi hài đến đây, thỉnh cầu lão tìm phương báo thù phục hận.

Lão đi tới đi lui một lúc, rồi dừng chân lại, hỏi qua tình hình. Bọn người vận tên đó phục tang luân phiên thuật lại diễn tiến của sự việc.

Đại khái, chúng cho biết có một quái khách vận áo trắng xuất hiện đột ngột, hỏi qua loa mấy tiếng, rồi tấn công, nhưng chỉ với một chiêu kiếm thôi, là sư phó của tên đó gục liền. Quái khách áo trắng yên lặng không nói thừa, không làm một cử động dư, hạ sát sư phó họ xong là bỏ đi liền.

Thanh Bình kiếm khách Bạch Tam Không càng nghe càng ngưng trọng thần sắc, sau cùng lão lẩm nhẩm :

– Một chiêu trí mạng? Quái lạ thật! Bọn Thanh Hạc Liễu Tòng dù sao cũng chẳng đến đỗi hèn kém, không chịu được một chiêu? Quái khách áo trắng là ai? Hắn bản vương sử dụng môn công gì tuyệt diệu như thế?

Bên ngoài, tám đại hán áo đen, chính là tám môn đồ của Bạch Tam Không, còn suy tư về cái chết của bốn vị anh hùng, người nào cũng trầm trầm gương mặt. Họ chẳng tưởng nổi trên thế gian lại có người tài giỏi như quái khách.

Bỗng, trước tầm mắt họ, xa xa có một người vận áo trắng từ từ tiến về phía họ.

Một người áo trắng!

Tám đại hán cùng biến sắc. Họ đưa mắt nhìn nhau, nhưng khi nhìn ra trước mặt, người áo trắng đã đến nơi rồi.

Người đó mặt lạnh như tiền, đôi mắt sáng quắc đảo quanh họ một lượt, đoạn buôn cộc lốc :

– Vào gọi Bạch Tam Không ra đây!

GÃ không buông thừa một tiếng, câu nói vừa đủ diễn tả cái ý của gã, chừng như bình sanh gã chẳng chịu dư công làm việc gì vô ích, đến bước đi gã cũng chẳng vội vàng. Vì không vội vàng nên gã chẳng hề sử dụng đến thuật khinh công. Nếu lấy con mắt phàm thường nhận xét gã, tất phải nghĩ rằng gã không phải là tay có võ công đáng sợ.

Cũng vì nhận xét như thế, nên tám học trò của Bạch Tam Không thầm nghĩ như nhau. Nếu tám người hợp sức lại, cùng một lúc tấn công gã, chắc chắn là gã khó tránh khỏi bị hạ.

Tuy nhiên, họ chưa dám tấn công, họ còn ngầm hỏi ý nhau. Người này đưa mắt nhìn người kia, nhưng người nào cũng sờ tay vào đốc thanh trường kiếm lủng lẳng bên hông.

Tên đại học trò họ Mạc tên Bất Khuất lạnh lùng thốt :

– Bạn hữu đã muốn gặp gia sư, thiết tưởng cũng chẳng khó khăn gì, bất quá bạn hữu làm cách nào vượt qua khỏi anh em tại hạ!

Soảng! Soảng!

Tám tiếng soảng vang lên gần như đồng thời phát xuất. Tám thanh trường kiếm rời khỏi vỏ, chớp ngời nơi tay họ. Tám thanh trường kiếm cùng chong ra, đồng một độ, chân họ đứng tấn cũng đồng một hình thức.

Giả dĩ họ lại giăng hàng ngang, không người nào chồm tới hoặc thụt lui, trông tư thế của họ, hết sức ngoạn mục, nhưng chẳng kém kiêu hùng.

Họ tuốt kiếm, chực chờ, song chưa tấn công.

Người áo trắng lùi lại hai bước. Trong lúc lùi, một đạo bạch quang từ tay gã lóe lên rồi tắt liền. Đạo bạch quang tắt lúc chân gã chưa chạm đất, dù gã chỉ lùi hai bước thôi.

Đạo bạch quang đó là làn chớp của thanh kiếm. HẮN vừa rút kiếm, vừa khoa lên, vừa lùi lại, vừa trụ bộ, vừa tra kiếm vào vỏ, ngần ấy động tác chỉ diễn ra trong một thoáng. Nhưng trong tay tả của hắn đã có một cành cây khô, do nhát kiếm vừa rồi tước đứt. Và chẳng rõ hắn chụp cành cây đó như thế nào, cả tám tên môn sinh của họ Bạch chẳng ai trông thấy cả.

Người áo trắng quắc mắt nhìn họ, trong ánh mắt hiện rõ niềm thương hại họ. TÊN ĐÓ bước tới hai bước, trao cành cây khô cho Mạc Bất Khuất, đoạn lạnh lùng nói :

– Mang vào, trao cho sư phó các cậu!

Rồi gã lặng lẽ bước đến phiến đá dựa cội cây gần đó, ngồi xuống, đưa ánh mắt mơ màng nhìn tận xa xăm…

Tám tên học trò họ Bạch ngẩn người nhìn nhau, chẳng ai hiểu ý tứ của tên đó ra sao cả.

Mạc Bất Khuất cầm cành cây khô, lẩm nhẩm :

– Cái gì thế này?

Tên môn sinh thứ hai, họ Kim tên Bất Úy, buông một câu :

– Hay tên đó ngán chúng lão phu?

Kim Bất Úy có thân vóc đồ sộ hơn các bạn đồng môn, tánh tình thô lỗ, hành động hồ đồ, lại nóng nảy, chừng như bình sanh gã chỉ buông lung theo tính khí, chẳng bao giờ chịu dùng lý trí xét suy cả.

Nhưng tên môn sinh thứ ba, họ Công Tôn tên Bất Trí, trầm giọng thốt :

– Sự tình không phải đơn giản đâu, chúng bản vương phải vào trong bẩm báo với sư phụ mới được!

Công Tôn Bất Trí có thân hình vừa ốm vừa thấp, tâm cơ mưu trí có thừa. Bạch Tam Không đặt cho hắn cái tên Bất Trí là cốt cảnh cáo hắn đừng quá ỷ lại vào cái trí linh mẫn trong mọi trường hợp, bởi con người thích dùng trí thường đa nghi và kém thành thật.

Mạc Bất Khuất nhìn thoáng sang người áo trắng đang ngồi thừ trên phiến đá, khẽ gật gật đầu :

– Tam sư đệ muội nói phải! Chúng bản tọa cần bẩm báo sư phụ, tùy người định đoạt!

Tên đó quay mình, xô vẹt cánh cửa cổng, bước vào.

Vừa trông thấy hắn, Bạch Tam Không đã biết là quái khách áo trắng đến rồi, lão biến sắc mặt, hỏi nhanh :

– HẮN ở đâu?

Mạc Bất Khuất đáp :

– Còn ở bên ngoài. GÃ chẳng dám tấn công với bọn để tử mà chẳng dám ngang nhiên tiến vào, gã chỉ tước một cành cây, bảo học trò mang vào trình sư tôn!

Bạch Tam Không cau mày, tiếp lấy cành cây. Thoạt đầu ánh mắt của lão còn chơm chớp, dần dần ánh mắt đó dán chặt vào cành cây, hay đúng hơn lão nhìn sững dấu kiếm chặt ngang cành cây, lão ngây người xuất thần.

Mạc Bất Khuất theo dõi từng biến chuyển trên gương mặt của lão, khởi sơ lão nhếch môi điểm phớt một nụ cười, chừng như hài lòng, chừng như tán thưởng đường kiếm chém rất sắc, dần dần lão ngưng trọng thần sắc, kế tiếp có vẻ sợ hãi, cuối cùng thì tay lão rung rung theo, hắn hết sức khác thường, không dằn được tính hiếu kỳ, hỏi gấp :

– Thầy cho phép bọn học trò tấn công đuổi tên đó đi chứ?

Bạch Tam Không trầm gương mặt quát :

– Câm ngay! Các ngươi lão phu muốn nạp mạng cho tên đó phải không?

Mạc Bất Khuất lộ vẻ kinh dị :

– Nhưng…

Bạch Tam Không trừng mắt :

– Nếu hắn chẳng thương hại các đối phương, thì đừng nói là tám mạng các đối phương, dù có đông gấp mấy lần số đó cũng phải gục tại cổng rồi!

Mạc Bất Khuất bị sư phụ quở, cúi đầu nhưng lòng chưa phục.

Bạch Tam Không khẽ thở dài :

– Uổng công bản tọa huấn luyện các đối phương, học tập bao nhiêu năm trời rồi vẫn chẳng có nhãn lực xét người, xét mình. Hãy ra ngoài đó, gọi tất cả đệ đệ vào đây cho bản tọa!

Mạc Bất Khuất trố mắt :

– Vào hết trong này, người áo trắng…

Bạch Tam Không quát chận :

– Nếu ý muốn vào dễ thường các đối phương ngăn chận được à? GÃ muốn ngồi đợi bên ngoài, thì chẳng bao giờ gã vào, dù các đối phương bỏ trống cửa.

Lão dặn tiếp :

– Cứ mở toát cổng ra, cấm các cậu đóng lại. Đóng cửa, chẳng ngăn được gã, mà còn tỏ ra hèn nhát.

Mạc Bất Khuất còn làm sao cãi được lịnh của sư phụ? HẮN bước ra ngoài, gọi các đệ đệ vào, hắn không quên nhìn thoáng sang quái khách áo trắng, thấy hắn vẫn ngồi bất động tại chỗ, không hề hướng mắt nhìn về phía cửa.

Bạch Tam Không trở vào đại sảnh, lại chiếc bàn có đầy đủ giấy bút và nghiêng mực, ngồi xuống viết một phong thư, niêm phong cẩn thận.

Trong lúc lão viết thư, các môn sinh đứng xa xa, lặng lẽ nhìn lão.

Phong thư niêm kỹ rồi, Bạch Tam Không đứng lên, day lại nhìn các môn sinh, đột nhiên quát lớn :

– Quỳ xuống!

Các môn đồ chẳng biết ý tứ thầy như thế nào, đồng riu ríu quỳ xuống, người nào cũng lộ vẻ kinh dị.

Lão nghiêm giọng hỏi :

– Giới luật thứ ba của bổn môn như thế nào?

Tất cả tám người đồng thanh đáp :

– Triệt để tuân sư mạng, ai phản bội sẽ bị trời tru đất diệt.

Bạch Tam Không gật gù, đoạn trầm gương mặt, gằn từng tiếng :

– Cuộc chiến hôm nay, thắng thì bản vương sống, bại thì bản vương chết. Dù bản vương thắng hay bản vương bại, các ngươi bản vương không được can thiệp! Các ngươi bản vương nghe rõ chứ, tuyệt đối không được vọng động động thủ.

Mạc Bất Khuất khẽ kêu lên :

– Trời! Thầy…

Bạch Tam Không khoát tay, hét :

– Lịnh của lão phu là thế, kẻ nào trái lịnh sẽ bị trời tru đất diệt. Các cậu nghe chưa? Không kẻ nào được nói tiếng gì nữa!

Tám tên học trò gầm đầu, yên tĩnh.

Bạch Tam Không trầm giọng tiếp :

– Nếu lão phu chết trong cuộc chiến này, thì từ Mạc Bất Khuất trở xuống, bảy người hãy chia tay nhau đến các phái Thiếu Lâm, Võ Đương, Nga Mi, Điểm Thương, Không Động, Hoa Sơn và Hoài Dương thuật rõ sự tình và xin nhập môn, và tiếp tục luyện võ. Chưởng môn các phái đó là tri kỷ của lão phu, các vị ấy sẽ thu nhận các ngươi lão phu. Hãy nhớ lời lão phu dặn, chuyên tâm khổ luyện, không được nghĩ ngợi gì đến các việc khác, nhất là việc báo thù cho lão phu!

Lão nhìn người môn sinh thứ tám, dừng lại một chút, rồi ngập ngừng :

– Còn cậu…

Lão khẽ thở dài.

Người học trò đó họ Hồ, tên Bất Sầu, nghiêm sắc mặt, chờ nghe.

Một lúc lâu, Bạch Tam Không tiếp :

– Việc bản tọa giao phó cho cậu rất quan trọng, bản tọa lo ngại từ đây cậu sẽ không còn được an nhàn tự tại. Cậu sẽ vất vả gian lao, lắm lúc lại phải đương đầu với nguy ngập. Chẳng rõ cậu dám thừa nhận không?

Hồ Bất Sầu quả quyết :

– Môn đồ dù nát thân cũng chẳng từ. Xin thầy cứ phân phó.

HẮN, thân ngắn, đầu to, trán rộng, mặt hắn luôn luôn tươi, tuy không cười vẫn trông như cười. HẮN thường ngày ăn và học chứ chẳng hề trò chuyện ba hoa như các bạn đồng môn, họ cho hắn là một người tích sự hơn hết.

Mạc Bất Khuất và sáu người kia, thấy sư tôn giao trọng trách cho hắn, vừa lấy làm lạ bất bình, chừng như ganh tỵ.

Mạc Bất Khuất cố lấy can đảm, ấp úng :

– Nếu đúng là việc trọng đại, tại sao sư phụ không giao phó cho bọn học trò thi hành, lại ủy thác cho hắn? Hoặc giả học trò, hoặc giả Công Tôn tam sư đệ muội, một trong hai chúng tôi có thể làm tròn nhiệm vụ sư phụ giao phó…

Bạch Tam Không khoát tay :

– Ngươi bản vương chẳng còn việc gì phải ở đây! Cút!

Rồi lão trao phong thư cho Hồ Bất Sầu, trầm giọng thốt :

– Nếu bản vương bại trong tay người áo trắng rồi, đối phương nhanh chóng vào hậu viện, đưa Bửu nhi đến tận nơi bản vương đã ghi chú trên phong bì, giao Bửu nhi và phong thư này cho người đó, phần đối phương thì hãy tuân theo lời người đó, tên đó bảo làm sao thì đối phương tên đó theo làm vậy!

Nói được điều khó nói xong, sắc mặt của Bạch Tam Không dịu lại, giọng lão cũng dịu theo, lão tiếp :

– Vô luận là gặp điều gì quái dị ở nơi đó, đối phương cũng chẳng nên kinh hãi. Bây giờ thì đối phương có thể đi được rồi!…

Hồ Bất Sầu hỏi :

– Nhưng sư phụ chưa….

Bạch Tam Không cười khổ :

– Chưa giao chiến với người áo trắng? Cậu cứ đi đi, sự việc sẽ diễn tiến đúng như bản tọa dự liệu, chẳng có gì thay đổi cả!

Tuy lão đã quát bọn môn đồ lui ra, nhưng lúc đó tám người vẫn còn hiện diện, lão chẳng nhìn đến người nào, lạnh lùng với lấy thanh kiếm trên án thư, bước ra tiền sảnh, đến bên thềm, nhìn qua bốn cỗ quan tài, đoạn đến gần sờ tay lên nắp, rồi ngẩn mặt lên không, bật cười khanh khách, thốt :

– Con nhà võ, cái lý phải chết tại chiến trường, thì cái chết có gì đáng sợ đối với ta đây?

Lão bước đến cổng, ra ngoài, đi thẳng tới trước mặt người áo trắng, điềm nhiên cất tiếng :

– Các hạ vì nghiên cứu cái đạo của võ thuật, nên không ngần ngại giết người, tại hạ vì cái đạo của võ thuật, không màng sanh tử vì một cuộc chiến. Tuy hai phương tiện khác biệt, song vẫn cùng chung cứu cánh, song phương đều vì cái đạo của võ thuật cả. Cục diện ngày nay đặt chúng lão phu đối lập với nhau, dù các hạ có giết tại hạ, tại hạ chẳng hề oán hận các hạ.

Người áo trắng từ từ đứng lên, nghiêng mình thi lễ.

Bạch Tam Không lấy làm lạ hỏi :

– Các hạ còn phải thủ lễ nữa sao?

Người áo trắng mặt lạnh như tiền, khẽ gật đầu :

– Bắt buộc phải thế, bởi từ phương Đông đến Trung thổ, lần đầu tiên mới gặp một người như ngươi bản vương, xứng đáng là một nhân vật võ lâm! Bản vương phải chào, bản vương chào tư cách của ngươi bản vương!

Đây là câu nói dài nhất của gã, từ lúc gã trôi dạt vào bờ biển, trải qua bốn hôm, sát hại bốn nhân vật.

Bạch Tam Không trầm giọng :

– Đa tạ!

Người áo trắng trở lại thái độ cũ :

– Ra tay đi!

Bạch Tam Không tay hữu rút kiếm, tay tả còn nắm chiếc vỏ, buông gọn :

– Mời các hạ!

Liền theo đó, lão đưa cao thanh kiếm rồi đứng lặng.

Cục trường tịch mịch lạ lùng, một cây kim rơi cũng nghe rõ tiếng.

Bọn môn nhân của Liễu Tòng, Triệu Sĩ Hồng, Lý Thanh Phong và Kim Đại Phi hết sức ngạc nhiên. Họ nhớ lại, lúc sư tôn họ giao thủ với người áo trắng, thì các vị đó không ngừng đảo bộ quanh đối phương, đảo bộ một lúc mới động thủ. Còn bây giờ, Bạch Tam Không chỉ cử gươm rồi bất động, thế là nghĩa gì? Tư thế đó, chiêu kiếm đó rất thông thường, tại sao Bạch Tam Không lại dùng để đối phó với người áo trắng?

Trời! Sư phụ sử dụng tuyệt chiêu, mà còn không thoát chết được với địch, Bạch Tam Không lại dùng chiêu bình thường thì mong gì thủ thắng?

Giả sử người áo trắng chỉ nhích bước tới một chút, loang kiếm lên là Thanh Bình kiếm khách phải phơi thây trên nền đất, và chắc chắn vết thương cũng đồng dạng với vết thương của bốn người kia.

Nhưng trước một chiêu thức thông thường đó, người áo trắng không tiến tới, trái lại còn lùi một bước.

Thanh Bình kiếm khách Bạch Tam Không thấy đối tượng lùi, nên thu kiếm về, rồi đưa ra chiêu thứ hai, cũng bình thường như chiêu trước.

Bọn môn đồ đứng bên ngoài lại một phen kinh hãi.

Người áo trắng lại lùi thêm một bước, lùi rồi bất động, thần sắc vẫn lạnh lùng.

Chiêu kiếm của Bạch Tam Không công không mạnh, mà thủ cũng không kín đáo, hơn nữa phần dưới thân hình lại để hở lồ lộ nét sơ hở mà bất cứ đối phương nào cũng thấy thèm.

Nhưng người áo trắng không thèm. Chừng như lùi một bước chưa đủ, hắn lùi thêm hai bước nữa.

Bọn môn đồ bên ngoài chẳng hiểu làm sao cả, chúng đưa mắt nhìn nhau, tất cả đều có đồng một thắc mắc như sau: Sư tôn họ xuất độc chiêu, vừa xuất chiêu là người áo trắng phản công ngay. Bây giờ, Bạch Tam Không xuất chiêu thông thường, lại dùng hai lượt, thế mà người áo trắng chỉ có lùi và bất động.

Hai chiêu đó có mãnh lực gì, bức thoái đối phương?

Chúng không hiểu, song người áo trắng hiểu.

Chiêu thứ nhất của Bạch Tam Không là chiêu khởi đầu của Thanh Bình kiếm pháp, còn chiêu thứ hai cũng là chiêu khởi đầu, nhưng thuộc Uyên Ương kiếm pháp. Phàm trong giới kiếm thủ, khi nào luyện đến mức độ tinh vi, người lão phu mới dám sử dụng chiêu khởi đầu, vừa để chào đối thủ, vừa tỏ rõ cho đối thủ biết mình là tay kiếm uyên thâm, tỏ rõ như vậy mới xứng đáng là quân tử kiếm. Những chiêu khởi đầu không dùng để công ngay địch, tuy có sơ hở như vậy, song thực sự rất kín đáo, nếu đối phương cũng uyên thâm kiếm thuật, tất chẳng bao giờ hấp tấp thừa cơ nhào vô liền.

Còn một lý do khác khiến Bạch Tam Không sử dụng hai chiêu kiếm thông thường đó là hai kiếm pháp Thanh Bình và Uyên Ương vốn do một đôi vợ chồng cầm đầu phái kiếm biến chế ra trong sinh hoạt hàng ngày, vợ đối với chồng tất phải tay nâng ngang mày, chồng đối với vợ phải tròn lễ độ, cho nên hai kiếm pháp đó đều khởi đầu bằng chiêu Cử Án Tề My, để chứng tỏ sự tương kính nhau.

Bọn môn đồ sở học còn thiếu bạc, làm sao thấu đáo tinh lý bên trong, tự nhiên thấy làm lạ.

Ngoài ra, Bạch Tam Không còn một dụng ý sâu xa, mới sử dụng hai chiêu kiếm đó.

Lão nhận thấy bốn vị tri kỷ đều chết vì một thế kiếm duy nhất nhắm từ giữa đôi mày đi ngang mũi, xuống bụng, tất nhiên đối phương phải nhắm khoảng giữa đôi mi, và hộ vệ khoảng giữa đôi mi, lão mới thi triển chiêu Cử Án Tề My.

Nhưng đưa ra hai chiêu đó, lão chỉ thấy đối phương lùi lại rồi bất động chứ không lướt tới tấn công. Lão giật mình, chẳng biết cứ giữ tư thế đó mãi hoặc dùng đi dùng lại hai chiêu đó, bắt buộc lão đảo bộ bước tới, vung kiếm đánh ra chiêu thứ ba liền.

Chiêu thứ ba là một chiêu đắc ý nhất của lão trong kiếm thuật, tất nhiên phải ảo diệu vô tưởng, nhiều cao thủ trên giang hồ phải ngã gục trước mặt lão vì chiêu kiếm đó.

Với chiêu thứ ba, lão vẫn thừa sức phòng vệ khoảng giữa đôi mi.

Lạ lùng làm sao, người áo trắng vẫn lùi. Đến chiêu thứ tư của Bạch Tam Không, gã cũng lùi luôn, gã chỉ có lùi từ đầu cuộc đến giờ.

Bọn môn đồ đinh ninh Bạch Tam Không đã chiếm được ưu thế rồi, bất giác chúng reo hò lên, niềm hân hoan hiện rõ trong ánh mắt, trên gương mặt của họ.

Nhưng họ không hân hoan lâu nổi!

Tiếng reo hò vừa vang dội, dư âm còn văng vẳng trong không gian, một ánh sáng chớp lên, ánh sáng từ nơi người áo trắng xẹt tới Bạch Tam Không. Kế tiếp một tiếng reng chấn động cục trường. Tiếng reng ngân dài, rồi một làn sáng xanh bay vút lên không, uốn cầu vòng, cắm phập vào một thân cây cách đó khá xa.

Bạch Tam Không nắm chặt trong tay phần kiếm còn lại, chập choạng lùi mấy bước, miệng nhếch nụ cười thảm, buông khẽ mấy tiếng :

– Chiêu kiếm… tuyệt diệu…

Có lẽ lão định vớt câu với hai tiếng “vô cùng cực” cho trọn nghĩa, nhưng câu nói bỏ lửng ở chỗ đó, lão ngã ngửa người ra phía sau bất động.

Bọn môn đồ kịp nhận ra một vết thương từ giữa đôi mi kép ngang mũi, dài xuống bụng, đồng dạng với vết thương của thầy họ!

Họ xám mặt trố mắt, thừ người, trong phút giây khủng khiếp, chẳng có một phản ứng nào cả.

Người áo trắng lạnh lùng nhìn mũi trường kiếm dài sáu thước, mũi kiếm còn nhỏ máu ròng ròng. Cơn gió quét qua, thổi tung bay những sợi tóc xõa của lão, những sợi tóc vờn qua gương mặt lạnh lùng, trông hắn như một âm hồn trong lớp áo trắng.

Qua những giây phút hãi hùng, bọn Mạc Bất Khuất cùng rú lên một tiếng lớn, cùng nhào đến bên cạnh Bạch Tam Không, cùng rống lên thống khổ.

Riêng Hồ Bất Sầu cũng bước tới, nhưng đứng ngoài xa xa. HẮN lạy ba lạy, đưa tay vuốt mấy hạt lệ, đoạn quay mình bước vào.

Những bước tường sau lưng hắn ngăn chận tiếng khóc, tiếng than của các vị sư ca hắn không còn vang đến tai hắn, nhờ vậy tâm thần đỡ bấn loạn phần nào.

Tên đó đi thẳng vào hậu viện, ra đến hoa viên.

Trong hậu viện, có một cây ngô đồng, tàn rậm, dựa cội cây có kê một chiếc giường thấp. Hiện tại, một đồng tử vận áo gấm, trạc độ mười một mười hai, đang nằm đọc sách.

HẮN chăm chú vào quyển sách, đôi mắt đen láy mở to không chớp.

Bên cạnh tên đó có chiếc mâm nhỏ, trong mâm có mấy loại trái cây, chừng như tên đó mải mê đọc, quên cả ăn, số trái cây còn rất nhiều.

Hồ Bất Sầu đeo một bọc khá to nơi lưng, ung dung bước vào hậu viện, chưa tới gần, tên đó đã gọi to :

– Bửu nhi!…

Đồng tử lặng thinh, mắt không rời quyển sách.

Hồ Bất Sầu lại gọi lượt nữa, rồi lượt nữa, đồng tử vẫn không nhúc nhích, mắt dán chặt vào quyển sách.

Hồ Bất Sấu khẽ thở dài, tuổi thơ nào biết gì? Nhà có đại tang mà tên đó vẫn còn lơ lửng nơi chín tầng mây, nghĩ đáng thương hại biết bao!

HẮN bước đến sát chiếc giường, nắm cánh tay đồng tử giật giật. Đến lúc đó, đồng tử mơi day mặt qua, nhìn họ Hồ, khẽ cau mày gắt :

– Người lão phu đang xem sách, thúc thúc làm gì gọi ồn lên như thế?

Hắn bản tọa tức thật, nhưng cái tức của trẻ nít, hắn bản tọa cố làm oai, tỏ vẻ nghiêm, trách nhẹ họ Hồ, tự vi mình cũng là kẻ thành nhân rồi, hoặc giả hắn bản tọa chỉ xem Hồ Bất Sấu hơn hắn bản tọa độ vài tuổi, dù hắn bản tọa gọi là thúc thúc.

Nhưng Hồ Bất Sấu không giận, dịu giọng hỏi :

– Ngoại công của cậu bảo lão phu vào đây đưa cậu đi dạo một lúc, cậu có thấy hứng không?

Đồng tử là giọt máu duy nhất của con gái Bạch Tam Không tên là Bạch Man Sa, còn đồng tử lấy họ cha tên Phương Bửu Nhi.

Kết hôn với Phương Sư Hiệp, Bạch Man Sa cùng chồng rời gia đình xuất ngoại hành hiệp khắp bốn phương trời. Cả hai chỉ trở lại nhà Bạch Tam Không có một lần mà thôi, để ký thác Phương Bửu Nhi cho ngoại công tên đó ngay từ lúc tên đó chưa tròn tuổi, từ đó đến nay, chẳng hề về thăm con.

Xuất thân trong gia đình chuộng võ, Phương Bửu Nhi lại thích văn, nên chỉ mới có ngần ấy tuổi mà tên đó ngày cũng như đêm, luôn luôn tay không rời quyển sách, lắm lúc đọc quên cả ăn. Tên đó không giống như bao nhiêu trẻ đồng tuổi, chúng ham rong chơi nô đùa, còn tên đó cứ miệt mài với bút nghiên sách vở.

Nghe Hồ Bất Sầu đề nghị xuất du, tên đó khẽ lắc đầu :

– Tôi không đi đâu!

Rồi hắn ta đây nhìn vào quyển sách, chăm chú đọc tiếp, bỏ mặc Hồ Bất Sầu khẽ thở dài nhìn hắn ta đây.

Hồ Bất Sầu biết rõ tánh tình hắn. Tuy chuộng văn nhưng rất quật cường, bởi biết vậy, hắn không giận. Hắn có thể làm bất cứ việc gì hắn thích, dù khó khăn đến đâu, hắn cũng làm được, vui vẻ mà làm, nhưng đừng ai mong cưỡng ép hắn làm việc gì hắn không thích, vô ích, chẳng bao giờ hắn làm.

Hồ Bất Sầu phải lựa lời khích hắn, hắn thốt :

– Người xưa nói đọc vạn quyển sách, đi vạn dặm đường là hai điều rất cần cho cái đạo làm người. Đọc nhiều sách để trau dồi kiến thức, đi nhiều dặm đường để chứng nghiệm kiến thức, đối phương không muốn mở rộng mắt nhìn đời sao? Như vậy có khác nào là một con mọt sách.

Đột nhiên, Hồ Bất Sầu làm sao cho gã biết thảm trạng gia đình? Óc gã còn non quá, cơn đại biết cố vừa qua gây ảnh hưởng tai hại nặng nề cho gã, gã phải cố dấu sự tình, gượng cười tươi đối thoại với gã.

Bửu Nhi day qua Hồ Bất Sầu, suy nghĩ một lúc rồi đáp :

– Thúc thúc nói đúng! Tôi nên theo thúc thúc đi dạo một lúc. Nhưng trước khi đi, mình nên thu dọn mấy món này…

Thu dọn để làm gì nữa? Toàn khu gia cư lẫn cả tài sản đều phải bỏ phế, bỏ cả, thì sá gì mấy vật mọn này?

TÊN ĐÓ cười nhẹ, tiếp :

– Là nam tử, là trượng phu, nói đi là đi, nói ở là ở, cử động thác lạc, có bậc anh hùng hảo hán nào tha thiết với những vật nhỏ mọn ấy? Họa chăng có bọn phụ nữ mới luyến tiếc những tế nhuyễn như vậy thôi.

Bửu Nhi thoáng đỏ mặt, gật gật đầu :

– Thì đi! Mình đi ngay bây giờ!

Tên đó cho mấy quyển sách vào trong áo, nhảy xuống giường điểm một nụ cười tiếp :

– Bất cứ nơi nào, thúc thúc dám đến là tôi vẫn đến được như thường!

Hồ Bất Sầu khẽ gật đầu :

– Nam tử chí tại bốn phưong, kể cả những hiểm ác nhất! Chúng ta đây đi ngay!

Họ vừa ra cửa đường sau, theo con đường nhỏ vào lòng thị trấn Tế Nam. Hồ Bất Sầu vừa lo vừa sợ. Lo vì hành trình vô định, sợ vì kẻ ác kia rất có thể theo dõi thực hành câu trảm thảo trừ căn. Tuy nhiên, ngoài mặt hắn luôn luôn tỏ ra tươi cười để giục lòng đồng tử, cho tên đó nổi hứng lên, chịu đi xa với hắn.

Thời tiết lúc đó đã vào thu, không khí mát mẻ, nhưng chỉ đi độ một dặm đường, Bửu Nhi đổ mồ hôi như tắm.

Bỗng hắn dừng chân lại, chánh sắc thốt :

– Hồ thúc thúc to đầu nhưng lại nhỏ trí quá! Cứ thản nhiên bước đi quên rằng cái bước của con nhà văn không hòa nhịp nổi với cước lực của người luyện võ. Thiết tưởng thúc thúc chậm lại bằng tôi cũng chẳng hại gì, hơn là tôi phải nhanh bằng thúc thúc!

Thấy tên đó giáo huấn nhẹ mình, Hồ Bất Sầu cười thầm, song tên đó nghĩ ra cũng phải thương hại tên đó, dù sao thì tên đó đâu có chịu vất vả bôn ba bằng tên đó. TÊN ĐÓ nghĩ :

– Song thân hắn đã biệt dạng phương trời, ngoại công hắn đã ra người thiên cổ, nếu lão phu không chiếu cố hắn, thì làm sao? Làm sao cho hắn?

Còn ai chiếu cố đến tên đó?

Đưa tay chỉ một quán bán giải khát trước mặt, Hồ Bất Sầu thốt :

– Nếu thấy mệt, mình nên dừng chân lại nơi ngôi quán đó, nghỉ chân một lúc.

Đến quán, gọi trà xong, Hồ Bất Sầu để mặc Bửu Nhi ngồi đó, gã bước ra ngoài lấy phong thư ra đọc mấy hàng chữ bên ngoài :

“Lưu bút lại cho Hồ Bất Sầu, cứ mở ra xem rồi thi hành đúng theo lời trong thư!”

TÊN ĐÓ vội bóc phong bì, đọc liền :

“Lúc ngươi bản tọa đọc mấy dòng chữ này thì bản tọa đã buông tay tắt thở dưới lưỡi kiếm của kẻ kia rồi. Nhìn nhát kiếm tước đoạn cành cây khô, bản tọa đã biết kiếm pháp của người áo trắng cao hơn bản tọa mấy bậc, trong võ lâm ngày nay há dễ có nhân vật nào khả dĩ đối địch lại hắn bản tọa. Hắn bản tọa từ phương Đông đến, chỉ có một ý chí quyết thắng tất cả cao thủ trên giang hồ, hắn bản tọa xuất chiêu độc, đủ biết lòng dạ hắn bản tọa rất độc, vì tâm độc nên hắn bản tọa chẳng hề lưu tình trong mỗi cuộc chiến. Trong những ngày sắp đến, nếu chẳng có tay nào ức chế nổi hắn bản tọa thì rồi đây chẳng biết còn bao nhiêu trăm ngàn cao thủ ngả gục trước kiếm pháp tuyệt độc của hắn bản tọa! Bản tọa vì muốn hạ sát hắn bản tọa, nên phải tử chiến với hắn bản tọa, dù có chết cũng đã làm tròn tâm nguyện đối với chánh nghĩa võ lâm.”

Hồ Bất Sầu lắc lắc đầu một tiếng thở dài một tiếng, rồi đọc tiếp :

“Sau khi bản tọa quyết tử chiến với hắn, bản tọa nghĩ rất nhiều về Bửu Nhi.

Soát lại trong môn sinh, bản tọa nhận thấy chỉ có cậu rất đáng cho bản tọa giao phó một nhiệm vụ. Nhiệm vụ đó là đưa Bửu Nhi đến bờ Đông Hải, cậu phải tìm cho gặp chiếc thuyền vĩ đại buồm bằng gấm ngũ sắc, bằng bất cứ thủ đoạn nào, cậu phải lên được trên thuyền, xin hội kiến với chủ nhân trao cành cây khô bản tọa kèm theo đây cho người xem và tường thuật sự tình cho người nghe việc xảy ra như thế nào, cứ thuật gã như vậy, không nên thêm bớt. Theo chỗ nhận xét của bản tọa, trong thiên hạ ngày nay, may ra chỉ có chủ nhân chiếc thuyền ngũ sắc là có thể chế ngự người áo trắng. Chủ nhân chiếc thuyền sẽ bảo cậu những gì cần làm, và cậu phải làm theo những gì người bảo. Ghi nhớ! Ghi nhớ!”

Hồ Bất Sầu đọc xong bức thư, thở dài một tiếng mấy lượt. HẮN khâm phục sư phó bình tĩnh vô cùng cực, cái chết kề bên mình mà vẫn viết ra được trọn ý, nét bút tự nhiên, không rối loạn!

Ngồi nơi bàn, đợi mãi mà chẳng thấy Hồ Bất Sầu trở vào, Bửu Nhi gọi :

– Thúc thúc đâu, nóng nảy gì lại chẳng ngồi yên được một chút để uống cạn chén trà? Hừ, luyện võ như thế, hóa ra phí ngày xanh quá!

Hồ Bất Sầu trở vào, điểm nhẹ một nụ cười :

– Luyện võ thì có gì phí ngày xanh? Võ cũng như văn, đều có cái hứng riêng biệt, đã có hứng thì chẳng bao giờ phí ngày xanh cả.

Thay vì đáp, Bửu Nhi lại tỏ ra vẻ trưởng thành, đầy kinh nghiệm, bĩu môi không nói tiếng gì.

Hồ Bất Sầu nhìn hắn, trầm ngâm một chút, rồi hỏi :

– Chừng như cậu chẳng thích học võ, tại sao?

Bửu Nhi vừa đứng lên, vừa cười nhẹ, thốt :

– Có nói ra, thúc thúc cũng chẳng hiểu được nào! Thôi chúng bản tọa tiếp tục cuộc du hành đi!

Hồ Bất Sầu khẽ thở dài, thầm nghĩ :

– “Ta đây e rồi đây đối phương không học võ cũng không được! Ngọn bút của đối phương không sắc bằng thép kiếm đâu!”

Bây giờ thì đã có hướng đi rồi, Hồ Bất Sầu chẳng còn hoang mang nữa, cứ theo hướng Đông thẳng tiến.

Đi, đành rằng phải có cước lực, nghị lực, nhưng hai yếu tố đó chưa hắn bản tọa đủ để cho người hoàn tất cuộc hành trình. Bởi, cước lực và nghị lực chỉ chí mà không giúp thân, và người lữ khách nào cũng cần đến lộ phí.

Ra đi hấp tấp, Hồ Bất Sầu không chuẩn bị lộ phí dồi dào, thành ra khi gần đến bờ Đông Hải thì tiền nong sắp cạn.

Riêng gã vất vả đói khát, đâu phải là một vấn đề? Song Bửu Nhi từ nhỏ đến lớn, sống sung túc, đến độ thừa thãi, gã có thể để cho tên đó kham khổ như gã được chăng?

Do đó dần dần, gã tự biết giảm khẩu phần của mình, để chu toàn cho Bửu Nhi được đầy đủ hơn. GÃ làm như thế, do lòng nhân hay vì cảm nghĩa sư tôn? Có lẽ do cả hai.

Rồi một hôm, họ đến bờ sông Đông Hải.

Khung trời lạ mở ra trước mắt, Phương Bửu Nhi thích thú cười luôn, trái lại Hồ Bất Sầu lại sầu rã ruột.

TÊN ĐÓ phải tìm cần, tìm nhợ, làm ngư phủ bất đắc dĩ.

Tại sao gã phải làm ngư phủ bất đắc dĩ?

Muốn dọ thám trong rừng, không gì bằng làm tiều phu, muốn dọ thám trên mặt biển, không gì bằng làm ngư phủ.

Vừa lưu ý đến những con thuyền lui tới bờ Đông Hải, vừa kiếm được con cá để ăn, đỡ tốn hao trong khi tiền nong sắp cạn, Hồ Bất Sầu không còn phương pháp nào hữu hiệu và thiết thực hơn nữa.

Dụng tâm của Hồ Bất Sầu là thế, Phương Bửu Nhi nào có biết cho tên đó đâu, cứ ngắm mây trông nước, đón gió nhìn cây, cởi mở tâm tư, tên đó gọi Hồ Bất Sầu cợt một câu :

– Ngờ đâu thúc thúc cũng có cái hứng nhã khiết như thế!

Thời gian vào lúc hoàng hôn tàn, đêm xuống, xa xa nơi phương trời Tây, ráng muộn còn ửng đỏ, trên không sao sớm đã chớp đều trên mặt biển, đèn câu đã đốt sáng, đèn thuyền cũng đã chiếu sáng khắp đó đây.

Hồ Bất Sầu đã câu được ba con cá khá to, gã nướng tươi tại chỗ, rồi cả hai dùng bữa cơm tối ngay tại bờ biển.

Phương Bửu Nhi ăn ngon quá, có lẽ bình sanh chưa bao giờ ăn được một bữa ngon như đêm nay.

Ăn xong tên đó cười thốt :

– Trong sách người xưa có dạy, ăn no rồi nên nằm nghỉ. Bây giờ mình nên tìm khách sạn thuê phòng đi!

Hồ Bất Sầu trầm ngâm lâu lắm, sau cùng thở dài một tiếng :

– Bửu Nhi! Từ nay trở đi, chúng bản vương không còn ngụ tại khách sạn nữa rồi!

GÃ nghĩ buông câu đó, gã phải làm cho Bửu Nhi bất mãn, vì chẳng muốn cho Bửu Nhi bất mãn nên gã do dự, cuối cùng gã đành thốt ra, bởi chẳng có cách nào hơn, bởi trước sau gì cũng thốt câu đó.

Phương Bửu Nhi suy nghĩ một chút, đoạn cười nhẹ :

– Không ngụ tại khách sạn, thì trời làm màn, đất làm giường, cỏ non làm nệm, mình vẫn sống được như thường, huống chi trong khi chờ giấc ngủ, mình có thêm cái thú đếm sao…

Hồ Bất Sầu nhìn gã :

– Cậu có thể chịu đựng được cái kiếp màn trời chiếu đất nổi không?

Phương Bửu Nhi cười lớn hơn một chút nữa :

– Màn trời chiếu đất với phòng ấm giường êm, khác nhau ở điểm nào, khi nhắm mắt đưa hồn vào giấc mơ, là ngoại vật chẳng còn ảnh hưởng gì cả. Giả sử, tôi hiểu rằng trong chiếc bọc hành trang của thúc thúc, tiền nong đã cạn, giả sử tôi hiểu rằng hiện tại hai chúng bản vương phải ăn đường ngủ đất, thì tôi dù muốn dù không cũng chẳng nghĩ đến khách sạn?

Hồ Bất Sầu giật mình, ngán sự thông minh của hắn, song gã lắc lắc đầu cười khổ :

– Tuy nhiên…

Phương Bửu Nhi cũng khẽ lắc đầu :

– Chẳng sao cả, thúc thúc ạ! Bất quá, người đọc nhiều quyển sách tất phải hiểu nhiều sự đời, cho thúc thúc biết, đó chỉ là một cái hay trong muôn ngàn cái hay của sách vở. Văn có kém võ đâu?

Bỗng Hồ Bất Sầu biến sắc mặt, thấp giọng thốt gấp :

– Có tiếng gã phục phất trong gió, chắc khách dạ hành nào đó sắp ngang qua đây, chẳng rõ khách có hảo ý hay ác cảm đối với chúng bản tọa, vậy chúng bản tọa hãy đề phòng!

GÃ đưa tay xoa xoa trên mặt đất, bốt một nắm bụi, trát lên mặt.

Phương Bửu Nhi khẽ thở dài :

– Những người theo nghiệp võ, sao cứ mỗi lúc phải đề phòng? Chẳng lẽ…

Hắn ta đây chưa dứt câu, hai bóng người đã xuất hiện trong màn đêm.

Người bên tả thốt :

– Giây phút còn sớm quá! Mà ánh lửa kia chừng như khác biệt. Ta đây nghĩ, chẳng phải nơi đây đâu, vậy mà cậu cứ giục ta đây đến đây.

Người bên hữu đáp :

– Dù thế nào đi nữa, mình cũng phải đến đây nghỉ chân một lúc.

Ngươi lão phu xem kìa, có ai vừa nướng cá đó…

Người đó bỏ lửng câu nói, ngồi ngay bên cạnh đống lửa, trước mặt Hồ Bất Sầu, trên đống lửa còn cá, tên đó với lấy một con, đưa vào miệng cắn liền.

GÃ tự nhiên quá, tưởng chừng những con cá nướng là phần dành cho gã.

HẮN cũng xem luôn Hồ Bất Sầu và Phương Bửu Nhi như những pho tượng vô tri giác, chẳng cần nhìn thoáng qua cả hai một cái.

Phương Bửu Nhi trừng mắt, gằn giọng :

– Hừ! Tri kỷ! Ít nhất cũng…

Hồ Bất Sầu nhanh tay bóp mạnh vào lưng hắn bản tọa, ngầm bảo hắn bản tọa đừng, đoạn trách hắn bản tọa :

– Hai vị đại gia ăn cá của chúng ta đây là vinh hạnh cho ta đây lắm, cậu trẻ nít biết gì lại dám hằn học?

Quả nhiên họ Hồ trách vờ để ve vuốt tự ái của kẻ kia, tên đó chẳng sanh sự trong khi chưa cần thiết lắm, trong tình cảnh của tên đó và Phương Bửu Nhi nhận được bao nhiêu có lợi bấy nhiêu, vừa dấu được hành tung.

HẮN điểm một nụ cười, hướng sang người lạ mặt tiếp nối :

– Hai vị cứ tự nhiên cho, những con cá nầy tiểu nhân nướng sẵn để cung kiến hai vị đấy!

Nướng sẵn để cung kiến? GÃ hớ rõ rệt, bởi làm sao gã biết được hai người kia sắp đến đây mà nướng sẵn, dành phần? Vả lại gã biết họ là ai, mà cất lòng cung hiến cái ăn?

Người bên tả bật cười âm trầm :

– Không ngờ một ngốc tử như ngươi lão phu lại có nhãn lực, biết xét người!

Hà hà, khá lắm, nếu chẳng vậy thì…

Người bên hữu miệng còn ngồm ngoàm cá, tiếp nối :

– Nếu chẳng vậy thì bọn bản vương sẽ nướng hai đối phương, ăn như ăn cá!

Phương Bửu Nhi sôi giận, cắn chặt hai hàm răng, ánh mắt bừng lửa đỏ, ánh mắt chớp luôn luôn, hắn ta đây nhìn người bên tả, như muốn vặn cổ hắn ngay.

Người bên tả, có gương mặt trắng bệch, màu trắng vô tình cảm, thân vóc hắn gầy đét, vận chiếc áo dài bằng gấm màu hồng, trông thoáng qua cũng có thể đoán thị hiếu của hắn là tửu sắc.

Người bên hữu dáng cao trên tám thước, cũng vận áo gấm, râu ngắn viền quanh cằm.

Cả hai đeo nơi lưng một chiếc bao chừng nặng lắm, mỗi người đều có một thanh đao lủng lẳng nơi hông.

Người râu ngắn ăn một lúc hết hai con cá nướng. Người ốm cao đứng một bên nhìn đồng bạn, lắc lắc đầu một tiếng khẽ thở dài :

– Cậu…

Bỗng gã quay phắt người lại, tay nắm chặc chuôi đao, hét lên :

– Kẻ nào đó?

Từ trong màn đêm, có tiếng lanh lảnh đáp vọng lại :

– Giang Bắc Nhất Trận Phong! Bản vương đi không tiếng, bản vương đến không tăm!

Câu đáp vừa buông dứt, một bóng người xuất hiện trước đống lửa còn cháy cao ngọn.

Người đó là một chàng trai, xác ốm, trên lưng cũng có một chiếc bao như hai người kia.

Người râu ngắn múc múc xương cá trắng phếu, thấy hết thịt liền quăng xa xa, đoạn đưa tay áo lau vội mép cất tiếng cười ha hả :

– Tưởng ai! Không ngờ lại là Phong lão đệ! Lại đây, lại đây! Còn mấy con cá nướng đây, ăn với bản tọa đi!

Người mới đến bật cười giòn :

– Từ xa, tiểu đệ trông thấy ánh lửa tưởng đâu là ngọn Linh Không Thần Hỏa, nên hối hả chạy đến. Đột ngột lại gặp Bưu Hổ nhị vị nhân huynh!

Nghe nói đến bốn tiếng Linh Không Thần Hỏa, người râu ngắn thoáng biến sắc mặt, hấp tấp hỏi :

– Vậy ra Phong lão đệ có tiếp được Thần Mộc Lịnh nữa à? Chắc Phong lão đệ mang lễ vật đến đây phải không?

TÊN ĐÓ vừa nói, vừa đảo mắt nhìn quanh sợ có kẻ nghe ngóng.

Người mới đến chính là Nhất Trận Phong, mỉm cười đáp :

– Tiếp được Thần Mộc Lịnh rồi, tiểu đệ lo quấn lên, phải mất đến hai mươi hai đêm trọn, đánh cướp đúng hai mươi ba nhà mới thu thập một số lễ vật đạm bạc!

Người râu ngắn cũng cười, thốt :

– Chứ bọn lão phu lại sẵn bạc vàng châu báu gì? Cũng phải bố đầu nầy, hốt đầu kia, gom góp được phần nào, tuy chẳng xứng đáng lắm, song tạm gọi là khả quan.

Nhất Trận Phong khoát khoát tay :

– Đừng láo! Còn ai chẳng biết nhị vị nhân huynh tích trữ rất nhiều bảo vật bạc vàng? Thiết tưởng, có vật gì tiểu đệ mang hiến vật ấy, quyết chẳng vay mượn đâu mà hai nhân huynh sợ!

Cả ba cùng cất tiếng cười vang.

Phương Bửu Nhi nghe chúng đối thoại với nhau, bất giác sững sờ lâu lắm, tên đó mới bấm khẽ Hồ Bất Sầu, rỉ bên tai hắn :

– Thì ra chúng là những tên cường đạo!

Hồ Bất Sầu gật gật đầu :

– Đại cường đạo nữa là khác! Chúng là những tay có hạng lắm. Phàm là khách giang hồ ai ai cũng nghe danh biết chúng! Chúng giết người không hề thoáng chốc. Hai tên tới trước, một là Phấn Bưu, còn một là Thiết Hổ. Tên đến sau như chúng đã gọi nhau chính là Nhất Trận Phong. Phấn Bưu và Thiết Hổ, lập căn cứ tại Bạch Mã Sơn, còn Nhất Trận Phong thì hành tung vô định, này đây mai đó, lại độc lực hành nghề, chẳng gia nhập vào nhóm cường đạo nào cả.

Phương Bửu Nhi trầm ngâm một chút :

– Chúng từ những nơi riêng biệt bỗng nhiên đến đây cùng một lúc, không lẽ chúng có ước hẹn với nhau? Trong vùng nầy có nhà nào thừa tiền dư bạc mà chúng định đánh cướp chăng?

Hồ Bất Sầu lắc lắc đầu :

– Chúng chẳng ước hẹn nhau mà cũng chẳng đánh cướp nhà ai quanh vùng này cả. Suy qua cuộc đối thoại của chúng, bản tọa có thể đoán là chúng tiếp được tín vật của nhân vật nào đó vô cùng cực lợi hại, đòi chúng đến đây, nên tên nào cũng trang bị lễ vật chúc mừng, và nhân vật đó ước hẹn nơi nào phóng hỏa, chúng hãy đến nơi đó, cho nên thấy lửa nướng cá của chúng bản tọa, chúng lầm rồi đồng đổ xô về đây!

TÊN ĐÓ trầm ngâm một lúc :

– Thần Mộc Lịnh! Thần Mộc Lịnh! Nhân vật nào có Thần Mộc Lịnh?

TÊN ĐÓ phải ghê gớm lắm mơi điều động nổi bọn đại cường đạo nầy!

Phương Bửu Nhi xì một tiếng :

– Ghê gớm gì? Bất quá cáo lão nào đó, chỉ là một con cáo già, cao thủ đoạn ngồi một chỗ, thu của bốn phương, có khác gì Đơn Hùng Tín ngày xưa ngồi không chia của.

Một cơn gió nhẹ chợt quét qua.

Phấu Bưu, Thiết Hổ và Nhất Trận Phong cùng đứng nhanh lên, cùng hướng mắt về một phía :

– Kẻ nào đó?

Không có tiếng đáp, nhưng có tiếng chân người. Tiếng chân vang lên trầm trọng, vì quá trầm trọng nên phải thận trọng.

Cả ba lộ vẻ khẩn trương ra mặt. Thiết Hổ nóng tính hơn hết, rút thanh đao dài bên hông cầm tay, hét to :

– Kẻ nào đó, nếu không chịu lên tiếng, đừng trách ta đây tàn nhẫn…

HẮN khỏi phải nôn nóng, câu nói của hắn chưa dứt tròn ý, một bóng người đã hiện rõ trong tầm mắt.

Người đó là một lão bà, vóc thấp, mập mạp, đầu bạc phơ, tóc rụng độ nửa, thành chiếc đầu gần như sói. Bà vận chiếc áo rộng, dài, bằng bố, khắp chiếc áo đều có túi, phỏng tính có hơn mười lăm mười sáu túi, hình thức bất đồng.

Tay bà cầm một chiếc trượng, dài độ chín thước, dĩ nhiên trượng phải cao hơn hình vóc của bà. Bà vừa đi vừa thở, ra dáng mệt nhọc lắm.

Bà cứ bước những bước chân chậm chạp, trầm trọng, tiến thẳng đến bên đống lửa, ngồi xuống tự lẩm nhẩm :

– Đêm thu mà gặp ngọn lửa như thế nầy, nghe ấm áp lạ! Khoái quá! Khoái quá!

Phương Bửu Nhi nhìn bà lão phu, nhận ra, gương mặt bà rất tròn, miệng tươi như có nụ cười gắn mãi mãi nơi vành môi, tiếng nói của bà ấm dịu, thần thái bà rất an tường.

Hắn ta đây không khỏi lo sợ cho bà, hắn ta đây đoán chừng ba tên cường đạo thế nào cũng gây sự với bà, mà bà thì hiền lành như vậy, làm sao tránh khỏi thủ đoạn tàn độc của chúng?

Lão bà ung dung đưa tay vào một chiếc túi, lấy ra một trái đào, kè vào mủi ngửi. Chừng như bà thèm ăn lắm, nhưng lại tiếc, cứ ngửi mãi, ngửi một lúc rồi hạ xuống miệng, cắn một miếng, nhai nhóc nhách, mắt chớp sáng ngời ra vẻ thích thú lắm.

Bà ăn, chốc chốc lại chép chép miệng, tiếc từ một chút mùi thơm của quả đào thoát ra ngoài, bà thản nhiên ăn, tưởng chừng như chẳng hề trông thấy ba tên cường đạo lăm lăm vũ khí trong tay, đứng nhìn bà chẳng vút qua.

Chúng nhìn bà, gương mặt chúng dần dần biến sắc, chúng đưa mắt nhìn nhau, đột nhiên cùng tra vũ khí vào vỏ, cùng quỳ xuống.

Đến lúc đó thì chúng lộ vẻ kinh khiếp rõ rệt trên mặt. Chúng quỳ nhưng chẳng nói năng gì liền.

Mặc chúng quỳ, lão bà cứ ăn xong quả đào, bà ta đây lấy trong chiếc túi khác, một nắm hạt đào rang tiếp tục ăn.

Bà cũng chẳng buồn nhìn đến ba tên cường đạo.

Phương Bửu Nhi trông cái cảnh đó vừa buồn cười vừa kinh hãi. GÃ cười vì bọn cường đạo trước đó, hùng hổ làm sao, giờ chẳng khác nào những con mèo bị cắt tai. GÃ cười vì lão bà cao niên kỷ như thế đó, thích ăn vặt như trẻ nít, áo bà rất nhiều túi, nhưng chẳng chứa đựng gì khác hơn là những quả những hạt, cho bà ăn vặt…

Hắn bản tọa kinh hãi vì bọn cường đạo là những hung thần ác sát, vậy mà gặp bà rồi, lại riu ríu quỳ xuống, tỏ vẻ ngoan ngoãn như chó con. Hẳn bà phải là một nhân vật thượng đỉnh trong giang hồ nên chúng mới kính nể đến độ đó.

Quỳ một lúc, chẳng thấy lão bà nhìn lại, chẳng nghe lão bà bảo gì, Thiết Hổ đặng hắng mấy tiếng, đoạn thốt :

– Anh em Bưu Hổ bái kiến Vạn lão phu nhân!

Lão bà day mặt về hướng chúng, nhướng mắt nhìn một lúc lâu, bà mới cười hì hì cất tiếng :

– À! Các ngươi ta đây chào ta đây phải không? Đứng dậy đi, ta đây già rồi, mắt đã mờ rồi, chẳng trông thấy gì rõ rệt! Thật ta đây có phần nào không phải đấy!

Bọn Thiết Hổ càng cúi đầu thấp hơn, Phấn Bưu ấp úng :

– Không rõ gần đây… Vạn đại hiệp…có được mạnh giỏi chăng?

Vạn lão phu nhân mỉm cười :

– Vạn đại hiệp nào? Trượng phu lão phu đã chết từ lâu… À! Các ngươi lão phu muốn hỏi đến đứa con trai vô dụng của lão phu phải chăng? Nó thì trời đánh cũng không chết, làm gì chẳng được mạnh giỏi? Khổ cái là từ ngày nó lấy vợ đến nay, chẳng còn săn sóc gì mẹ già của nó nữa!

Tiếng nói, giọng cười của bà hiền từ quá, bà trách con trai nhưng ai lại chẳng biết bà trách yêu. Phương Bửu Nhi trông thấy bà bất giác liên tưởng ngay đến bà ngoại tên đó…

Hồ Bất Sầu ngưng trọng thần sắc từ lúc Vạn lão phu nhân xuất hiện, tên đó nhìn bà rất kỹ, một lúc lâu tự lẩm nhẩm :

– Vạn đại hiệp?… Vạn đại hiệp nào?… Hay là Vân Mộng đại hiệp Vạn Tử Lương, mà bà ta đây là mẹ của vị đại hiệp đó?…

Bọn Thiết Hổ đứng lên.

Vạn lão phu nhân mỉm cười hỏi :

– Trông tình hình các ngươi lão phu, lão phu đoán các ngươi lão phu vì tiếp Thần Mộc Lịnh mà đến đây có phải vậy không?

Thiết Hổ gật gật đầu :

– Đúng vậy!

GÃ đáp nhanh quá, Phấn Bưu muốn ngăn lại, nhưng không còn kịp nữa.

Vạn lão phu nhân khẽ thở dài :

– Chủ nhân Thần Mộc Lịnh thật ra đã làm một việc phi phận rồi đó!

Đã quy ẩn trong bao nhiêu năm, mà vẫn còn sử dụng uy tín ngày nào, tùy tiện phát lịnh điều động các đối phương, lão ấy cứ tưởng rằng mình vẫn còn là Minh Chủ Hắc đạo. Thành ra, các đối phương vất vả mang lễ vật bôn ba trên đường dài tìm đến đây, cống hiến cho lão!

Bà dừng lại một chút, đoạn tiếp hỏi :

– Mà các ngươi bản tọa mang những món gì đó, có thể cho bản tọa nhìn thấy được chăng?

Ba tên đại cường đạo nhìn nhau một thoáng, gương mặt tên nào cũng lộ vẻ khó khăn. Chúng còn do dự, Vạn lão phu nhân cười nhẹ thốt :

– Không lẽ cho bản tọa xem một chút lại chẳng được sao?

Chúng còn làm sao hơn?

Phấn Bưu hấp tấp đáp :

– Vạn lão phu nhân đã dạy, tự nhiên chúng tôi phải vâng!

Rồi cả ba cùng hạ chiếc bao trên lưng xuống, cùng mở ra, tuôn những báu vật bên trong đổ bừa bãi trước ánh lửa hồng.

Những báu vật đó toàn là những món hi hữu trên thế gian, chớp ngời dưới ánh lửa. Phương Bửu Nhi dù sanh trưởng trong dư giả, cũng phải chóa mắt.

Tuôn những báu vật đó ra rồi, ba tên cường đạo cùng lộ vẻ cao ngạo, chúng cười nhẹ hỏi :

– Lão phu nhân xem, những vật nầy mang đến mừng Chủ nhân Thần Mộc Lịnh, có xứng đáng không?

Vạn lão phu nhân vẫn giữ nụ cười hiền hòa :

– Những báu vật đó, mang cống hiến cho bậc vua chúa, kể ra thừa xứng đáng nữa là khác, song…

Thiết Hổ vội hỏi :

– Song làm sao, hở phu nhân?

Vạn lão phu nhân điềm nhiên :

– Song đem cống hiến cho Chủ nhân Thần Mộc Linh, bản vương e quá đạm bạc.

Nhất Trận Phong biến sắc trước. Phấn Bưu và Thiết Hổ biến sắc sau.

Cả ba cùng trố mắt nhìn lão bà.

Lâu lắm, Thiết Hổ mới ấp úng :

– Đạm bạc?…

Vạn lão phu nhân khẽ gật đầu :

– Đạm bạc lắm. Trừ phi…ba phần gộp lại làm một, may ra khả dĩ tạm gọi là được! Thật tình bản vương chỉ sợ Chủ nhân Thần Mộc Lịnh bắt tội các đối phương khinh miệt người!

Bà đưa tay vào một chiếc túi khác, lấy ra mấy trái ô mai rim đường híp mắt lại, vừa nhai vừa chép chép miệng. Bà thản nhiên ăn, thích thú ăn, tưởng chừng bình sanh không gì hấp dẫn bà bằng những quà vặt.

Phấn Bưu, Thiết Hổ cấp tốc thu xếp các món đồ của chúng vào bọc, cột dây cẩn thận, cho lên lưng, rồi lùi lại mấy bước.

Đột nhiên, Nhất Trận Phong giương đôi mắt, b*n t*nh quang sáng ngời sang cả hai bên cười khanh khách :

– Vạn lão phu nhân đã nói thế, tại hạ tưởng hai vị nên làm phương tiện cho tại hạ là phải hơn!

Thiết Hổ cao giọng :

– Làm phương tiện như thế nào?

Nhất Trận Phong mỉm cười :

– Ba phần riêng rẽ chẳng phần nào đủ giá trị để cung hiến Chủ nhân Thần Mộc Lịnh, chi bằng hai vị nên nhường hai phần đó cho tại hạ, nhập với phần riêng, còn hai vị thì hãy trở về, sắm sửa phần khác tươm tất hơn. Như vậy là tiện lợi cho cả ba chúng bản tọa.

Thiết Hổ hét to :

– Vô lý! Đối phương muốn cướp báu vật của anh em bản vương?

Nhất Trận Phong rít một tràng cười ghê rợn :

– Nhất Trận Phong này không đến nỗi có thái độ đó với các vị đâu, mà dù tại hạ muốn cướp, hai vị cũng chẳng ngăn cản được! Tại hạ mong hai vị nên thức thời một chút, thà đắc tội với hai vị, còn hơn là bị Chủ nhân Thần Mộc Lịnh quở trách.

Thiết Hổ quát lớn :

– Câm ngay! Cậu làm gì nổi bọn lão phu mà dám cao ngạo?

Nhất Trận Phong trầm giọng :

– Thế là các vị nhất định bắt buộc tại hạ phải ra tay? Giả sử tại hạ lỡ g**t ch*t các vị, thì chẳng hóa ra oan uổng cho các vị chăng?

Thiết Hổ sôi giận :

– Cậu giết bọn bản tọa hay bọn bản tọa giết cậu?

Câu nói vừa buông dứt, Phấn Bưu và Thiết Hổ cùng rút trường đao.

Nhất Trận Phong nhếch mép, tháo chiếc thắt lưng quét ra một vòng biến thành một trường thương rộng bản sáng như bạc.

Vạn lão phu nhân không nhìn đến họ nửa mắt, tự nhiên cắn ô mai nhai nhai, chép chép, mắt vẫn híp lại như thường. Gương mặt bà vẫn còn mãi vẻ tư tưởng hiền hậu, nơi khoé miệng nụ cười tươi vẫn gắn chặt như từ thuở nào, chẳng hề tắt.

Hồ Bất Sầu theo dõi diễn tiến của mọi người tại cục trượng, gã thái độ thầm nghĩ :

“Lão bà nầy xem thì ôn nhu hòa dịu lắm, nhưng cái tâm của bà tàn độc làm sao! Chỉ dùng một câu ngắn ngủi, lại có thể khích cả ba cùng đưa nhau vào cuộc tử chiến! Người ta đây sắp đánh nhau trí mạng, mà bà vẫn thản nhiên được, nham hiểm thật.”

Biết vậy, họ Hồ dù can thiệp để ngăn chận một cuộc chiến vô lý cũng chẳng thực hiện ý muốn được, bởi còn bao nhiêu việc bên mình, mà toàn là những việc khẩn cấp, nếu rầy vào việc người, sự tình biết đến bao giờ dứt khoát, chẳng hóa ra chậm trễ việc mình sao?

TÊN ĐÓ đành bất động, chỉ lấy mắt nhìn.

GÃ bất động, song Phương Bửu Nhi không dằn được bất bình, gã kêu lên :

– Lão thái thái đã xem lễ vật của người, tại sao không cho người xem lễ vật của thái thái? Như vậy có bất công chăng?

Vạn lão phu nhân mở mắt ra, cười nhẹ :

– Nhóc con, ngươi lão phu nói gì đó?

Nhưng Phương Bửu Nhi không lập lại câu hỏi. Có lẽ hắn hỏi như thế, do một dụng ý nào khác hơn là muốn xem lễ vật của bà.

Và cái dụng ý của tên đó, bọn Phấn Bưu, Thiết Hổ và Nhất Trận Phong hiểu rõ, họ là những tay lão luyện giang hồ, dù kém võ công chứ kinh nghiệm có thừa, so với bất kỳ ai.

Cả ba cùng thu võ khí, Phấn Bưu cười lớn thốt :

– Buồn cười thật!

TÊN ĐÓ không đợi hai người kia hỏi, cười tiếp luôn :

– Chúng ta đây toàn là những kẻ to đầu, cao tuổi, mà không nghĩ đến việc xem lễ vật của Vạn lão phu nhân, phải chờ một tiểu gia hỏa đề cập đến mới nhớ ra!

Nhất Trận Phong phụ họa :

– Phải đó! Chúng ta đây cần xem lễ vật của lão phu nhân như thế nào, để dùng làm tiêu chuẩn chu biện cho thích đáng!

Phấn Bưu còn đi xa hơn, không cần dè dặt sợ hãi như trước :

– Ta đây chỉ sợ lão phu nhân trong khi khẩn cấp, không kịp sắm sửa lễ vật, nên nảy sanh ác ý khích nộ chúng ta đây, cho chúng ta đây đánh toi mạng cướp phần của nhau, dĩ nhiên đánh mãi thì bọn chúng ta đây sẽ chết dần, cuối cùng thì bà ta đây chẳng cần phí sức lắm cũng hạ được kẻ sống sót, chiếm luôn cả ba phần. Như thế có phải khỏe chăng?

San bằng được bất hòa, ba tên cường đạo giờ đây liên kết với nhau, chúng cùng lùi lại ba bước, cùng đứng ngang nhau giăng thành hàng chữ nhất, cùng nhìn thẳng đến Vạn lão phu nhân.

Chúng không quên ngầm vận công, chuẩn bị ứng phó nếu Vạn lão phu nhân tấn công bất thình lình.

Vạn lão phu nhân khẽ khẽ thở dài, vẫn với giọng dịu hiền thốt :

– Các đối phương xem nhẹ ta đây quá! Đây các đối phương xem!

Bà bản vương đưa vào một chiếc túi, lấy ra một xâu mười hai hạt ngọc chói màu tím sậm, mỗi hạt to cỡ quả trứng chim câu.

Vốn là những tay lục lâm, cường đạo, bọn Phấn Bưu Thiết Hổ và Nhất Trận Phong còn lạ gì loại châu ngọc trên đời. Chúng xem ngọc còn tinh vi hơn thợ ngọc. Trông thấy mười hai viên ngọc của Vạn lão phu nhân tất cả cùng biến sắc mặt, cùng trố mắt, thừ người. Bình sanh chúng chưa từng trông thấy một loại ngọc nào vừa đẹp vừa to như thế.

Chúng muốn nhìn sát mắt nhưng còn dè dặt bước tới một bước, rồi ngập ngừng, rồi bước.

Vạn lão phu nhân cười nhẹ :

– Cứ bước tới mà xem, bản tọa chẳng làm gì hại đến các ngươi bản tọa đâu đừng ngại.

Chúng cùng bước tới, nghiêng mình nhìn, vừa nhìn vừa nói :

– Vô giá! Vô giá! Đáng thẹn cho chúng bản tọa, bôn tẩu giang hồ trong bao nhiêu năm, thế mà tầm mắt vẫn còn hẹp, chưa từng trông thấy vật quý như thế này!

Bỗng hơn mười đạo hắc quang chớp lên, từ lòng bàn tay Vạn lão phu nhân b*n r*.

Dĩ nhiên, cái đích là ba tên cường đạo.

Hơn mười đạo hắc quang đó nhắm vào yếu huyệt của chúng lão vút tới.

Như chưa vừa lòng với bao nhiêu đạo Hắc quang đó, Vạn lão phu nhân cho tay vào túi áo, láy ra hạt đào, hạt hạnh nhân, hạt ô mai, lao vút theo. Thủ pháp của bà vừa nhanh vừa chuẩn, dù cho bọn Phấn Bưu có đề phòng cũng chẳng mong gì tránh kịp, huống hồ bà động thủ đột ngột.

Chúng có bao giờ tưởng những chiếc túi của bà lão phu, lại chứa toàn ám khí, mà ám khí chẳng phải là những vật chế luyện với hình thức riêng biệt như khách giang hồ thường dùng. Ám khí của bà là những món quà vặt, phàm thường thì thưởng thức nó, khi cần thì bà dùng nó làm ám khí, thừa lợi hại hạ địch như những ám khí thực sự.

Vì chẳng ngờ như vậy, chúng lãnh đủ. Bất quá, chúng chỉ tránh né được một vài vật đầu tiên, song những hạt đào, hạt hạnh nhân, hạt ô mai b*n r* tới tấp, chúng làm sao tránh kịp?

Rồi ba tiếng rú vang lên, ba tên cường đạo ngã nhào một lượt. Mỗi tên hứng ít nhất cũng mười hạt, hạt nào cũng ấn sâu vào da thịt tưởng chừng như xác thân chúng có khảm những hạt đào, hạt hạnh nhân, hạt ô mai.

Hai tên kia có lẽ đã tắt thở, chỉ còn mỗi một mình Thiết Hổ, có sực chịu đựng khá, tên đó phều phào hỏi :

– Bà đã có xâu ngọc đó, chưa đủ sao, còn bày kế lừa chúng tôi đoạt báu vật của chúng tôi? Dù sao, thủ đoạn của bà tàn độc quá.

Vạn lão phu nhân khẽ lắc đầu, thở dài một tiếng :

– Bọn đối phương thật là ngu xuẩn! Trên thế gian này làm gì có ngọc màu tím?

Thiết Hổ ngẩn người, không rõ vì giận hay vì tức là mình ngốc, tên đó nghe mồ hôi hạt, đượm đầy trán, rơi xuống áo ròng ròng. Một lúc sau, tên đó cố gom toàn lực hỏi :

– Thế vật gì trong tay bà?

Vạn lão phu nhân cười nhẹ :

– Kẹo ô mai, sênh đường pha màu tím trông bóng ngời, món quà bản tọa ưa thích nhất, bất cứ đến thị trấn nào, bản tọa phải tìm mua cho kỳ được một mớ, bỏ trong túi bản tọa ăn suốt ngày suốt đêm trừ lúc ngủ. Cậu có quáng manh chăng mà không nhận ra?

Thiết Hổ giương tròn mắt, đôi tròng suýt lọt ra ngoài, hét lên một tiếng to :

– Tức chết bản vương thôi!

Rồi gã nấc nấc mấy tiếng tắt lịm.

Vạn lão phu nhân nhìn ba xác chết nằm vật trên mặt đất, lại khẽ lắc đầu, lại thở dài một tiếng :

– Đáng tiếc! Đáng tiếc!

Phương Bửu Nhi mục kích cảnh tình của ba tên cường đạo, không khỏi tức uất Vạn lão phu nhân ra tay tàn độc, sát hại ba mạng người như một trò đùa, tên đó chưa nói gì, bà bản tọa lại khẽ thở dài tiếc rẻ, tên đó càng tức uất hơn thầm nghĩ :

– “Đã biết tiếc sao còn hạ thủ đoạn?”

Vạn lão phu nhân tặc lưỡi, tiếp nối :

– Bản tọa chỉ còn có bao nhiêu đó thôi, chúng bắt buộc bản tọa phải hủy hoại tất cả, đáng hận thật!

Bà đứng lên, bước tới cạnh các xác chết, vạch áo chúng gỡ từng hạt đào, hạt hạnh nhân, hạt ô mai lút sâu vào da thịt chúng. Hạt nào cũng có vấy máu, có hạt đọng chảy ròng ròng.

Bà quẹt những hạt đó trên áo chúng cho sạch máu, đoạn bỏ vào túi.

Phương Bửu Nhi vỡ lẽ, thì ra bà tiếc mấy món quà của bà, chứ chẳng tiếc mạng sống của bọn cường đạo.

Trời! Những hạt đó vấy máu tanh hôi, bà chỉ quẹt sơ cho khô rồi cất vào mình, định ăn bằng thích chứ chẳng bỏ. Tên đó nghĩ đến điều đó, lợm giọng nôn khan, nhưng bụng tên đó chứa đầy cá nướng, tên đó vừa nôn bao nhiêu cá tuông ra rồn rột.

Hồ Bất Sầu lúc đầu nghe Phương Bửu Nhi hạch hỏi Vạn lão phu nhân đoán chắc sẽ có đại họa đến nơi, rồi bây giờ tên đó lại nôn mửa, như vậy thế nào Vạn lão phu nhân cũng quở trách, mà bà lão phu quở trách thì chỉ còn có nước cúi đầu chờ bà lão phu giết, chứ chẳng còn làm gì khác nơi được, tên đó sợ quá, vội bế xốc Phương Bửu Nhi lên, dợm chân chạy đi.

Một tràng cười ha hả vang lên, Vạn lão phu nhân đã đứng án trước mặt gã rồi. Bà hỏi :

– Tiểu gia hỏa đó, con cái nhà ai, lại thông minh thế?

Hồ Bất Sầu không nói năng chi cả, xoay người nửa vòng, nhún chân vọt lên cao, xoay mình tạt qua, đáp xuống chạy đi liền.

Nhưng gã vừa chấm chân xuống đất, Vạn lão phu nhân nhanh hơn, đã đáp xuống trước mặt gã.

Bà cười gằn :

– Tại sao ngươi lão phu chạy trốn lão phu? Tiểu gia hỏa thông minh như thế kia, lão phu có lòng nào làm thương hại đến hắn lão phu sao?

Hồ Bất Sầu chẳng thế nào chạy khỏi tay bà được, đành đứng nguyên tại chỗ, suy nghĩ tìm cách đối phó.

Phương Bửu Nhi vùng vẫy, vuột khỏi tay Hồ Bất Sầu, hắn đứng thẳng người cất cao giọng hỏi :

– Đã không làm gì thương tổn đến tôi, lại không chịu phóng thích tôi, thế bà muốn làm gì tôi?

Vạn lão phu nhân cười dịu :

– Già như bản tọa, thấy trẻ thông minh, ai mà chẳng mến, đã mến thì phóng thích làm sao được. Ít nhất bản tọa cũng phải nâng niu một lúc chứ? Lại đây lại ăn quà với bản tọa!

Bà lấy mấy hạt đào, hạnh nhân, ô mai vấy máu, trao cho Phương Bửu Nhi. g**t ch*t tên đó, tên đó chẳng bao giờ tiếp nhận đừng nói là ăn.

Vạn lão phu nhân cười lạnh lùng :

– Nhóc con không ăn mà được với lão phu à? Có vấy máu ăn càng ngon chứ sao?

Bà giết người, bà cưỡng ép người ăn những vật đẫm máu, vậy mà cử chỉ của bà hết sức dịu hiền, lời nói của bà hết sức êm nhẹ, gương mặt hết sức từ tường.

Phương Bửu Nhi giận quá mắng to :

– Lão yêu phụ! Lão độc bà! Lão yêu nghiệt! Cũng có ngày cậu bị thiên hạ mổ bụng, moi tim lột da!

truyen full, truyenfull, truyenfullvn, truyenfulllive

truyenfull,truyenfull vn

Tùy chỉnh hiển thị

18px
1.8