Annabelle – Người Phụ Nữ Tuyệt Vời
Chương 13
Vào thượng tuần tháng chín, Annabelle trở lại New York, để Blanche, William và nhiều gia nhân khác tại nhà ở Newport. Cô ấy đem Thomas theo mình về New York, định bán hết xe cộ của bố, chỉ để lại một chiếc thôi.
Cô bản vương ở tại căn hộ của Josiah, cô bản vương nghĩ phải tìm mua ngôi nhà mới, nhưng cô bản vương không biết mua ở đâu và hỏi ai. Hiện thời cô bản vương biết Josiah còn lâu mới về. Chàng đã nói chàng và Henry đi xa nhiều tháng, hay lâu hơn và từ khi chàng đi Mexico đến nay, cô bản vương không nghe tin tức gì về chàng hết. Chàng hoàn toàn bỏ rơi cô bản vương và mọi người khác cũng thế. Josiah nghĩ rằng chàng làm thế là vì lợi ích của cô bản vương.
Nữ nhân ấy quay lại làm việc ở Ellis Island. Người từ châu Âu vẫn đổ đến, mặc dù người Anh phong tỏa Đại Tây Dương và người Đức vẫn đánh đắm tàu thyền. Một hôm Annabelle nói chuyện với một phụ nữ Pháp về chuyện vượt biển của chị bản vương, nữ nhân ấy bèn nghĩ đến chuyện của mình. Annabelle nghĩ ra đi là cách hay nhất, có ý nghĩa hơn là cứ ở lại New York như thế này, để bị mọi người quen biết ở đây xua đuổi. Nữ nhân ấy không quan tâm đến chuyện chết chóc khi vượt Đại Tây Dương hay khi đi sang châu Âu. Thực vậy, nữ nhân ấy sẵn sàng đón nhận sự tự do mà số phận đã mang lại cho việc Josiah đã vô tình kết tội nữ nhân ấy ngoại tình để ly dị.
Nàng ta đây đã nói chuyện với nhiều người ở Ellis Island về việc nàng ta đây sẽ làm. Người bác sĩ mà nàng ta đây cộng tác đã cho nàng ta đây một lá thư với lời chứng nhận về năng lực của nàng ta đây để nàng ta đây sử dụng tại bệnh viện ở Pháp. Ông ta đây nói cho nàng ta đây biết về một bệnh viện được thiết lập trong một tu viện tại Asnières-sur-Oise gần Paris, chỉ toàn là phụ nữ làm việc ở đấy. Bệnh viện này do một người đàn bà Scotland, bác sĩ Elsie Inglis thiết lập vào năm trước. Bà này đã đề nghị thiết lập bệnh viện ở Anh, nhưng bị từ chối. Chính phủ Pháp rộng lòng đón nhận bà và bà đến thiết lập bệnh viện tại tu viện này, dùng toàn nhân viên nữ làm việc, cả bác sĩ lẫn gã tá, chỉ có vài bác sĩ là nam giới thôi. Người bạn bác sĩ của Annabelle nghe nàng ta đây có ý định đi châu Âu, liền khuyến khích nàng ta đây đến đấy.
Elsie Inglis là một phụ nữ có tư tưởng tiến bộ, là thành viên đòi quyền đi bầu của phụ nữ, đã học ở trường Edinburgh, một trường gã dành cho phụ nữ. Bà đã thành lập trường đại học gã khoa tư, đã dạy tại trường New hospital for women. Người bác sĩ giới thiệu Annabelle với bà, nói rằng bệnh viện của Inglis thành lập được điều hành rất tốt. Bà đã sửa sang tu viện Abbaye de Royaumont thành bệnh viện và hoạt động vào tháng 12 năm 1914, sau khi chiến tranh bùng nổ. Các bác sĩ làm việc ở đấy đều có tiếng tăm, họ hết lòng chăm sóc cho các binh sĩ bị thương ngoài mặt trận, được đưa từ các bệnh viện dã chiến đến. Annabelle nghe thế, cô ấy liền muốn đến đấy và có lẽ sẽ được đón nhận niềm nở. Cô ấy không quan tâm việc cô ấy sẽ lái xe cứu thương hay làm việc tại bệnh viện. Dù họ cần cô ấy làm gì, cô ấy cũng rất vui lòng làm.
Bây giờ cô ấy không có lý do để ở lại New York. Cô ấy không có người thân, họ hàng, không chồng, thậm chí cô bạn thân cũng tuyên bố không muốn gặp cô ấy. Bạn bè của bố mẹ Josiah và của chàng đều ngạc nhiên. Từ khi chàng rời khỏi thành phố, mọi người đều nghĩ rằng cô ấy đã làm cho tim chàng tan nát. Họ ghê tởm cô ấy bằng mọi cách và không ai biết sự thật về chuyện đã xảy ra. Cô ấy không có lý do gì để ở lại đây, cô ấy phải ra đi cho rảnh mắt.
Annabelle mất nhiều ngày tiếp theo để thu xếp đồ đạc gửi tất cả vào nhà kho, đi làm hộ chiếu mới, vì cô ta đây không đi xa đã sáu năm, từ khi được 16 tuổi. Cô ta đây đăng ký vé tàu Saxonia đi Pháp, mua một ít áo quần vải thô để sang bên ấy mặc. Cô ta đây không cần áo quần mỏng, đẹp, còn đồ nữ trang của cô ta đây và của mẹ cô ta đây, cô ta đây gửi vào ngân hàng của bố, rồi chuẩn bị một số tiền cần thiết để dùng ở châu Âu. Cô ta đây không nói với ai về chuyện này và vào cuối tháng chín, cô ta đây đi Newport để từ giã Blanche và các gia nhân ở đấy. Có cả thảy năm người trong nhà để làm việc vào mùa đông, chăm sóc nhà cửa, sửa sang vườn tược. Với ngôi nhà nhỏ như vậy, số người làm như vậy là đủ, nhưng không quá nhiều. Cô ta đây nói cho bà Blanche biết cô ta đây sẽ làm gì và có lẽ cô ta đây đi một thời gian lâu mới về.
Bà già khóc trước những gì đã xảy ra, bà than thở cho số phận của cô chủ, sợ những chuyện không hay sẽ xảy đến cho cô ấy tại Pháp. Họ đều biết cô ấy có thể gặp nguy ngập khi vượt Đại Tây Dương, vì những bãi mìn trên mặt biển và tàu ngầm Đức có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Bà Blanche biết rất rõ rằng Annabelle không quan tâm đến những việc đó. Cô ấy không có gì để mất, không có ai để sống cùng. Ít ra tại mặt trận, cô ấy có thể làm những việc có ích. Cô ấy lấy hết những cuốn sách về hắn học để đem theo, nghĩ rằng sẽ cần những cuốn sách này. Hai ngày sau, khi Annabelle rời khỏi Newport, mọi người đều khóc tiễn biệt cô ấy, họ tự hỏi không biết có gặp lại cô ấy hay không.
Khi trở về New York, Annabelle đến từ biệt các bác sĩ và hắn tá mà nàng ta đây đã làm việc với họ tại Ellis Island và một số bệnh nhân điều trị dài mà nàng ta đây ưa thích, nhất là các trẻ em. Nàng ta đây nói với bác sĩ chính rằng nàng ta đây đi làm việc từ thiện tại một bệnh viện dã chiến ở Pháp. Từ biệt mọi người làm cho nàng ta đây đau lòng.
Tất cả đồ đạc của Josiah đã được gửi hết vào kho, nữ nhân ấy chỉ còn những chiếc vali cần mang theo, trong vali có áo quần vải thô nữ nhân ấy đã mua để dùng trong chuyến hành trình và nhiều áo vét, áo khoác ấm. Nữ nhân ấy đã thu xếp sao cho vừa ba cái vali lớn và nữ nhân ấy định sẽ ở trong cabin trên tàu, nên không đem theo áo dạ hội. Nữ nhân ấy lấy hộ chiếu ra, đăng ký hành trình theo tên của mình, chứ không phải tên của Josiah. Vào ngày cuối cùng ở New York, nữ nhân ấy đi dạo một đoạn dài, đi qua ngôi nhà của bố mẹ nữ nhân ấy trước đây. Đấy là nơi cuối cùng nữ nhân ấy đến từ biệt. Nữ nhân ấy đứng đấy một hồi lâu, nghĩ đến những kỷ niệm đã mất. Khi đang đứng đấy, nữ nhân ấy thấy người hàng xóm cũ từ xe hơi bước ra, ông ta đây thấy nữ nhân ấy, nhìn nữ nhân ấy với ánh mắt hằn học. Ông ta đây quay lưng, không chào nữ nhân ấy một tiếng, rồi bước đến thềm nhà, đóng mạnh cửa. Khi nữ nhân ấy về lại căn hộ của Josiah, nghĩ đến chuyện này, quyết định ra đi của nữ nhân ấy lại càng mạnh thêm. Nữ nhân ấy không có gì ở New York để lưu luyến.
Sáng hôm sau, Thomas lái xe đưa Annabelle ra bến tàu Cunard đúng giờ, để giúp nữ nhân ấy đưa các vali lên tàu. Saxonia là chiếc tàu thủy lớn đã được đóng 15 năm rồi, dùng chuyên chở hành khách và hàng hóa, tàu có bốn cột ăng ten, một ống khói cao ngất. Tàu vĩ đại nên không chạy nhanh. Tàu không sang trọng, nhưng chạy rất êm và là phương tiện hái ra tiền cho hãng vì chở được nhiều hàng, cho nên khu vực dành cho khách phải thu nhỏ để giảm bớt chỗ rất nhiều. Từ khi xảy ra chiến tranh, khu hạng nhất được loại bỏ. Tàu không tiện nghi như những chiếc tàu mà Annabelle trước đây đã đi với bố mẹ, nhưng nữ nhân ấy không quan tâm, nữ nhân ấy đăng ký mua vé vào ở một phòng riêng rộng rãi hạng nhì.
Hai thủy thủ trẻ đi theo họ dẫn đường lên phòng nữ nhân ấy. Thomas ôm ghì nữ nhân ấy thân thiết để từ biệt. Anh lão phu sẽ đem chiếc xe của bố nữ nhân ấy gửi trong nhà xe cho thuê và ngân hàng được lệnh của nữ nhân ấy bán chiếc xe đi. Thomas đang tìm việc khác để làm, vì Annabelle không biết khi nào nữ nhân ấy mới trở về.
Nửa giờ sau, khi tàu nhổ neo rời bến, anh ta đây vẫn còn đứng trên bến tàu, vẫy tay chào nàng ta đây. Những người đến tiễn chân trên bến tàu đều có vẻ mặt nghiêm trang, họ biết chiếc tàu sẽ băng qua Đại Tây Dương rất hiểm nghèo. Những ai có việc cần lắm mới đi. Không ai đi để giải trí trên mặt biển đầy hiểm nghèo này. Châu Âu đang có chiến tranh, nên việc băng qua đại dương là chuyện hết sức hiểm nghèo.
Annabelle đứng trên boong tàu cho đến khi tàu lướt qua tượng Nữ thần Tự do. Nữ nhân ấy nhìn thấy Ellis Island, cảm thấy lòng đau như cắt, rồi đi về phòng. Nữ nhân ấy lấy ra cuốn sách hắn học và bắt đầu đọc, cố không nghĩ đến chuyện sẽ xảy ra nếu bị ngư lôi đánh đắm. Đây là lần đầu tiên nữ nhân ấy đi tàu vượt đại dương kể từ khi bố và anh trai đi tàu Titanic bị chìm. Nữ nhân ấy căng thẳng khi nghe tiếng con tàu gầm gừ, lòng phân vân không biết tiềm thủy đỉnh có ở gần vùng biển của nước Mỹ hay không và không biết chúng có tấn công họ hay không. Mọi người trên tàu đều có ý nghĩ như thế.
Cô ấy ăn một mình trong phòng riêng, rồi nằm trên giường trằn trọc suốt đêm, lòng phân vân không biết có đến được nơi bình an không, không biết khi đến Pháp, cô ấy có gặp chuyện gì bất trắc không. Cô ấy định sẽ đến khu vực người ta đây nói đang cần đến cô ấy nhất. Vì Mỹ không tham chiến, nên không có tổ chức từ thiện nào của Hoa Kỳ ở đấy, nhưng cô ấy biết có người anh em họ Astor của cô ấy đang đầu tư cho một bệnh viện dã chiến ở đấy và một người anh em họ Vanderbilt đang tình nguyện làm việc. Nhưng sau thông tin về vụ ly dị của cô ấy được loan truyền, cô ấy không dám đến tiếp xúc với họ. Khi đến Pháp, cô ấy sẽ tự tìm nơi khác làm việc. Cô ấy phải nghĩ ra cách để tìm.
Khi đã tìm ra bệnh viện mong muốn, nàng ta đây sẽ làm bất cứ việc gì người ta đây giao phó. Nàng ta đây sẽ bằng lòng làm tất cả mọi công việc, nhưng theo chỗ nàng ta đây biết thì các chiến hào đều đầy dẫy những người bị thương. Ngay cả các bệnh viện cũng đầy người. Nàng ta đây tin chắc có người sẽ giao công việc cho nàng ta đây làm, nếu tàu vượt qua được đại dương bình an.
Cô ấy đã học hỏi được rất nhiều điều từ các bác sĩ và gã tá ở Ellis Island và cô ấy tiếp tục nghiên cứu sách về gã học hàng ngày. Cô ấy nghĩ, ít ra họ cũng để cho cô ấy lái xe cứu thương, như thế còn hữu ích hơn ở New York để bị mọi người ghẻ lạnh.
Mặc dù Josiah đã cẩn thận đề phòng cho nàng ta đây tránh khỏi bị rắc rối, nhưng bây giờ tất cả danh tiếng của nàng ta đây đã bị việc ly dị hủy hoại hoàn toàn. Mọi người không còn kính nể nàng ta đây và khả năng sống cuộc sống mới hoàn toàn hết hy vọng. Chàng không biết việc này. Nàng ta đây như bị kết án hình sự, như phạm phải một tội không bao giờ được tha thứ. Bản án kết tội nàng ta đây có hiệu lực mãi mãi. Với hoàn cảnh nào, nàng ta đây cũng không thể tiết lộ bí mật của Josiah. Nàng ta đây quá yêu chàng nên không thể làm thế được và điều chàng dấu còn làm cho mọi người ngạc nhiên ngạc nhiên hơn cả việc ly dị của họ. Việc phát hiện ra mối tình lâu năm của chàng với Henry và căn bệnh giang mai mà hai người đã mắc phải sẽ làm cho đời chàng hoen ố, ô danh. Nàng ta đây không thể làm thế với chàng. Bí mật của chàng, nàng ta đây sẽ mang theo xuống mồ.
Cho nên nàng ta đây rất sung sướng khi sang Pháp, vì ở đấy sẽ không ai biết nàng ta đây. Mới đầu, nàng ta đây không biết mình nên nói là góa phụ hay không có chồng. Nhưng nếu có ai biết Josiah, ngay cả ở châu Âu cũng có khả năng có người biết, chắc họ sẽ biết chàng còn sống và cho nàng ta đây là người nói láo, việc này càng gây rắc rối thêm. Cuối cùng nàng ta đây quyết định sẽ nói mình không có chồng. Nói thế sẽ đơn giản hơn nếu nàng ta đây gặp ai đã biết chàng. Nàng ta đây lại là Annabelle Worthington, như thể không có hai năm sống cùng với Josiah, tuy họ đã sống với nhau và nàng ta đây yêu chàng tha thiết. Nàng ta đây đã yêu chàng đủ để tha thứ cho chàng vì những lỗi lầm mà chàng không thể tránh khỏi và vì căn bệnh hiểm nghèo không biết khi nào sẽ g**t ch*t chàng.
Khi con tàu nhẹ nhàng lướt qua biển trong đêm đầu tiên, cô ấy nghĩ thầm rằng có lẽ cô ấy sẽ bị g**t ch*t ở Pháp, cô ấy sẽ không phải chịu đựng thêm cảnh chứng kiến sự chết chóc hay mất mát. Cô ấy biết dù họ đã ly dị, nhưng khi chàng chết, chắc cô ấy cũng khổ đau cực kỳ. Cô ấy chỉ muốn được sống với Josiah, với cuộc sống hôn nhân hạnh phúc và sinh con cho chàng. Hortie không biết cô ta đây may mắn xiết bao khi có chồng phàm thường và có con. Bây giờ Annabelle không có được cảnh như thế. Cô ấy đã bị bỏ rơi, bị xua đuổi. Sự ruồng rẫy của Hortie đối với cô ấy là vố khổ đau cho cô ấy sau việc Josiah bỏ cô ấy ra đi. Trong khi chiếc Saxonia lướt một cách thận trọng trên biển để đến Pháp, Annabellle nghĩ rằng cô ấy hoàn toàn cô độc trên đời. Đây là ý nghĩ kinh hoàng của người cô gái đã được bảo vệ suốt đời, trước hết là sự che chở của gia đình, sau đó của chồng. Bây giờ cả gia đình và chồng đều biến mất cùng với thanh danh, tăm tiếng của cô ấy. Cô ấy sẽ phải mang danh kẻ ngoại tình mãi mãi. Nghĩ đến chuyện đó, nước mắt cô ấy chảy xuống dầm dề ướt cả gối.
Đêm đó, tàu chạy không gặp vấn đề gì rắc rối. Họ đã tăng cường nhân viên canh gác gấp đôi để canh chừng mìn trên mặt biển. Không có dấu hiệu gì báo cho họ biết họ gặp mìn, hay sắp đụng phải tàu ngầm Đức xuất hiện. Họ đã luyện tập cách dùng thuyền cứu sinh trong một giờ khi tàu rời bến. Mọi người đều biết thuyền cứu sinh để ở đâu, còn áo cứu sinh treo trong các ca bin ngay trước mắt mọi người. Trong thời bình, áo cứu sinh được chất vào ch* k*n đáo hơn, nhưng từ khi tàu Lusitania bị đắm vào tháng năm, thì hãng tàu biển Cunard không dám xem thường. Họ ra sức đề phòng để bảo đảm yên ổn tối đa cho khách hàng, nhưng làm thế chỉ gia tăng không khí căng thẳng trên tàu mà thôi.
Annabelle không nói chuyện với ai. Nàng lão phu đã xem danh sách hành khách đi tàu, thấy có hai người quen của bố mẹ trên tàu. Nhưng nàng lão phu không muốn gặp họ, vì tin ly dị đã được loan truyền khắp nơi ở New York, nàng lão phu tin họ đã biết. Nàng lão phu không muốn gặp họ vì sợ họ sẽ hắt hủi nàng lão phu, hay tệ hơn thế. Nàng lão phu thích ở trong cabin suốt ngày, chỉ ra ngoài đi dạo trên boong khi đêm xuống, khi mọi người đã thay áo quần để ăn tối. Tối nào nàng lão phu cũng ăn một mình trong phòng riêng của mình. Mặc dù nàng lão phu có đem theo sách để đọc giải trí, nhưng cái chết của bố và anh trai trên chiếc Titanic vẫn làm cho tâm trí nàng lão phu hoang mang. Và câu chuyện về chiếc Lusitania bị đắm còn tệ hơn nữa. Nàng lão phu bị căng thẳng, lo lắng, ban đêm không ngủ được, nhưng nàng lão phu đã dùng phần lớn thời gian dài không ngủ đó để nghiên cứu, học hỏi về tên đó học.
Cô nhân viên trên tàu đã cố gắng giục nàng lão phu đến phòng ăn để ăn tối, nhưng không thành công. Vào đêm thứ hai của chuyến đi, ông thuyền trưởng mời nàng lão phu đến ăn tối tại bàn ông. Đây là vinh dự cho ai được mời, hành khách nào cũng nhận lời ngay, nhưng nàng lão phu từ chối, gửi giấy xin lỗi rất lịch sự, nói rằng nàng lão phu không được khỏe. Hôm đó, biển hơi động, cho nên ông lão phu nghĩ nàng lão phu bị say sóng, nhưng thực ra nàng lão phu không say. Nàng lão phu rất khỏe trong chuyến vượt biển này.
Người tiếp viên nam và cô tiếp viên nữ có nhiệm vụ lo cho nàng bản vương, đều tự hỏi phải chăng nàng bản vương đã bị mất người thân yêu. Nàng bản vương trẻ đẹp, nhưng rất nghiêm nghị. Họ nhìn chiếc áo đen nàng bản vương mặc trên người để tang cho mẹ và họ thắc mắc. Rõ ràng đã có chuyện gì xảy ra cho nàng bản vương. Khi nàng bản vương đi dạo lúc xế chiều, nàng bản vương thường đứng nhìn cảnh mặt trời lặn, như người có chuyện tình trắc trở, bi đát đã xảy ra. Nàng bản vương đứng nhìn ra biển, nghĩ đến Josiah, tự hỏi không biết có gặp lại chàng hay không. Nàng bản vương cố không nghĩ đến Henry và không ghét anh bản vương.
Thường thường, khi nào nàng lão phu về lại phòng riêng của mình, trông nàng lão phu như thể đang khóc. Nàng lão phu thường đeo mạng che mặt, ngoài mạng ra, chiếc mũ rộng vành cũng che kín mặt nàng lão phu. Nàng lão phu không muốn người lão phu nhận ra mình, không muốn ai thấy mặt mình. Nàng lão phu đang biến mất khỏi đại lục của mình, vứt bỏ cuộc sống được che chở mà trước đây nàng lão phu rất vui sướng và không muốn ai biết quá khứ đời mình. Nàng lão phu trút bỏ hết cuộc sống bình an, quen thuộc, để dấn thân vào cuộc sống mới.
Nữ nhân ấy hết sức ngạc nhiên khi nhận ra rằng, ngoài ngôi nhà của bố mẹ ở Newport, nữ nhân ấy không có ngôi nhà nào hết. Đồ đạc của nữ nhân ấy đều gửi hết vào kho, còn lại những gì cần thiết đều nằm ở trong ba cái vali nữ nhân ấy đang mang theo. Cô tiếp viên nói với ông quản lý trên tàu rằng nữ nhân ấy không mang theo rương hòm như các bà quí phái, đây là việc hết sức kỳ quái. Thậm chí không có áo lông, đồ nữ trang hay áo dạ hội, mà theo phong thái và cách giao tiếp, người ta đây thấy rằng Annabelle đã được sinh ra trong gia đình thượng lưu. Hằng ngày nhìn ánh mắt buồn bã của nữ nhân ấy, cô tiếp viên cảm thấy thương hại nữ nhân ấy. Hai người có tuổi gần bằng nhau và Annabelle rất tốt với cô ta đây.
Sang ngày thứ tư, khi tàu đến gần châu Âu, bỗng nó chạy chậm lại khiến mọi người ngạc nhiên. Tàu không di chuyển nhanh trên mặt nước, nhưng người trưởng toán canh gác không thấy gì đáng nghi, ông bản tọa lo ngại có tàu ngầm gần đây. Tất cả hành khách đều lo sợ, có người mặc áo cứu sinh mặc dù không nghe tin báo động. Lần đầu tiên Annabelle ra ngoài thanh thiên bạch nhật để xem chuyện gì đang xảy ra. Cô bản tọa hỏi một sĩ quan, anh bản tọa trả lời cho cô bản tọa biết chuyện họ lo sợ, anh bản tọa ngạc nhiên trước sắc đẹp của cô bản tọa, được che phía sau tấm mạng và cái mũ. Anh bản tọa tự hỏi, phải chăng cô bản tọa là diễn viên danh tiếng cải trang đi du lịch, hay là nhân vật nổi tiếng nào đấy. Cô bản tọa mặc áo quần màu đen may đo thật đẹp, và khi cô bản tọa tháo găng tay, anh bản tọa thấy hai bàn tay cô bản tọa thật duyên dáng. Anh bản tọa nói cho cô bản tọa yên tâm, sau đó cô bản tọa lánh xa đám người đang nói chuyện hay đang ngồi từng nhóm nhỏ chơi bài để đi quanh tàu một vòng, rồi quay về phòng.
Xế chiều hôm đó, người sĩ quan trẻ gõ cửa phòng cô ta đây. Cô ta đây mở cửa và ngạc nhiên khi thấy anh ta đây. Cô ta đây đang cầm cuốn sách trên tay, mái tóc vàng dài xõa xuống hai vai. Trông cô ta đây như một cô gái nhỏ và anh càng ngạc nhiên hơn trước sắc đẹp của cô ta đây. Cô ta đây đã cởi bộ đồ vét ra, thay vào chiếc váy đen dài và áo sơmi đen. Cũng như người tiếp viên, anh ta đây nghĩ cô ta đây là một góa phụ trẻ, nhưng không biết tại sao cô ta đây đi châu Âu. Anh ta đây nói anh ta đây đến để xem thử cô ta đây có khỏe không, vì hồi nãy cô ta đây có vẻ lo sợ và hiện con tàu vẫn chạy chậm.
Nữ nhân ấy mỉm cười e lệ, trả lời nữ nhân ấy khỏe. Anh nhìn xem nữ nhân ấy đang đọc sách gì và ngạc nhiên khi thấy cuốn sách nữ nhân ấy đang đọc. Đây là cuốn sách về tên đó khoa của bác sĩ Rudolph Virchow và trên bàn phía sau nữ nhân ấy có thêm ba cuốn nữa của bác sĩ Louis Pasteur và bác sĩ Claude Bernard, những nhà bác học nổi tiếng trong ngành tên đó.
– Cô đang học tên đó khoa à? – Anh bản vương hỏi, vẻ ngạc nhiên. Đây là loại sách phụ nữ không ai đọc, anh bản vương tự hỏi phải chăng nữ nhân ấy là tên đó tá. Thật khó mà đoán ra được địa vị của nữ nhân ấy trong xã hội.
– Phải… không… ờ, không phải, – nàng ta đây đáp, vẻ bối rối. – Tôi chỉ thích đọc loại sách gã học này. Đấy là dam mê của tôi.
– Anh tôi là bác sĩ, – anh bản tọa tự hào nói. – Anh ấy rất thông minh. Mẹ tôi là tên đó tá. – Anh bản tọa nán lại, tìm cớ để nói chuyện với cô bản tọa. Cô bản tọa có gì đấy rất bí mật, anh không thể không tự hỏi cô bản tọa sang Pháp làm gì. Có lẽ cô bản tọa có gia đình ở đấy. Độ này, càng ngày càng ít phụ nữ đi tàu thủy qua đại dương. – Thưa cô Worthington, nếu cô cần tôi giúp gì, xin đừng ngại nhé. Cô bản tọa gật gật đầu, ngạc nhiên khi nghe có người gọi tên cô bản tọa như thế lần đầu trong hai năm nay. Cô bản tọa chưa quen với tên gọi này. Cô bản tọa cảm thấy như mình đi ngược thời gian trở lại thời niên thiếu. Cô bản tọa đã rất tự hào được làm bà Millbank. Bây giờ trở lại tên Worthington cô bản tọa thấy buồn, như thể cô bản tọa không xứng với tên của Josiah. Họ đã thỏa thuận để cho cô bản tọa lấy lại tên cũ của cô bản tọa. Chàng có thể kiến nghị với tòa để cho cô bản tọa giữ tên chàng, nhưng cả hai đều nghĩ rằng cô bản tọa không giữ tên chàng là hay nhất. Dùng tên mình thời con gái dễ dàng cho cô bản tọa hơn, như dùng tấm bảng đen còn sạch để viết, nhưng cô bản tọa vẫn nhớ tên chàng.
– Rất cám ơn anh, – nàng bản vương lễ phép đáp. Chàng cúi người chào, rồi đóng cửa, trở lại với cuốn sách, không ra khỏi phòng cho đến khi trời tối. Nàng bản vương giam mình trong phòng, nên chuyến đi có vẻ quá lâu. Tàu chạy chậm suốt cả ngày, nhưng mọi người bằng lòng, họ thích thà chậm mà yên ổn còn hơn nhanh, dù đến chậm một chút cũng được.
Ngày hôm sau tình hình lại càng căng thẳng hơn ngày hôm trước. Mới sáng sớm, tổ canh gác đã thấy một bãi mìn từ đằng xa về phía mạn bên phải của tàu. Lần này còi báo động hú vang lên, mọi người đều lên boong tàu để nghe thủy thủ đoàn cho biết chuyện gì đang xảy ra. Tất cả mọi người đều mặc áo khoác cứu hộ và họ được báo phải mặc suốt ngày. Annabelle vội ra khỏi phòng không đội mũ và đeo mạng, hôm đó trời nắng ấm, gió thổi nhẹ. Tóc xõa dài xuống lưng, nữ nhân ấy mặc chiếc áo dài đen bằng vải lanh. Người sĩ quan ngày hôm qua lại đến gần nữ nhân ấy, anh lão phu cười.
– Không có gì đáng lo, – anh ta đây nói. – Chỉ đề phòng thôi. Chúng ta đây không gặp chuyện gì rắc rối. Nhân viên của chúng tôi rất giỏi. Họ phát hiện ra bãi mìn ngay. – Cô ta đây nhẹ người, nhưng lòng vẫn lo, không yên tâm.
Bỗng vô tình cô bản tọa buột miệng nói cho anh bản tọa biết chuyện riêng của mình:
– Bố mẹ tôi và anh trai tôi đi trên chiếc tàu Titanic, – nói xong, cô ấy thấy mình lỡ lời, bèn mở to mắt nhìn anh lão phu.
– Thật đáng tiếc, – anh bản vương đáp, giọng buồn rầu. – Không có chuyện đáng buồn như thế xảy ra ở đây đâu. Đừng lo, thưa cô. Ông thuyền trưởng đã có cách để kiểm soát. – Nhưng bãi mìn ở trên mặt biển làm cho tàu phải chạy thật chậm suốt ngày hôm đó. Và hai ngày tiếp theo, khi chiếc Saxonia đến gần nước Pháp, họ lại càng phải thận trọng, đề cao cảnh giác nhiều hơn nữa.
Cuối cùng, chuyến hành trình mất bảy ngày. Họ đến cảng Le Havre lúc sáu giờ sáng, con tàu được thả neo ở bến tàu trong khi hầu hết hành khách đang còn ngủ. Bữa sáng sẽ được dọn lúc bảy giờ. Sau đó, chiếc tàu sẽ đi tiếp đến Liverpool, vì Southampton đã bị quân đội lấy làm căn cứ. Trong chuyến đi này, họ dừng lại nước Pháp trước hết, vì phải tránh đường thủy có mìn. Khi tàu cập bến, Annabelle đứng trên boong tàu, phục sức nghiêm chỉnh. Người sĩ quan trẻ quen thuộc thấy nàng lão phu bèn đến gần. Trông nàng lão phu có vẻ phấn khởi và tỉnh táo. Trong chuyến hành trình, bây giờ anh lão phu mới thấy nàng lão phu sung sướng ra mặt, anh tự hỏi phải chăng nàng lão phu có vẻ u sầu vì lo sợ khi ở trên tàu, hay cho thân nhân của nàng lão phu đã bị chìm tàu? Mọi người đều sung sướng khi đến Pháp bình an.
– Chắc cô sung sướng khi đến Paris phải không? – Anh ta đây vui vẻ hỏi. Rõ ràng nữ nhân ấy sung sướng, bỗng anh tự hỏi phải chăng nữ nhân ấy có hôn phu ở đấy. Nữ nhân ấy cười, khẽ gật đầu, nắng mai lấp lánh trên đầu họ. Nữ nhân ấy đội mũ nhưng không đeo mạng, anh có thể nhìn vào đôi mắt xanh của nữ nhân ấy.
– Phải, nhưng tôi không ở lâu, – nữ nhân ấy đáp. Anh rất ngạc nhiên trước câu trả lời của nữ nhân ấy. Bây giờ không ai đến Paris trong một thời gian ngắn. Vì ở đấy có thể gặp nhiều hiểm nghèo, nên không ai đến đấy để nghỉ lễ ngắn ngủi.
– Cô sẽ quay về à?
– Không, tôi không về. Tôi hy vọng sẽ được làm việc tại một bệnh viện ở phía bắc Paris, cách mặt trận quãng ba mươi dặm.
– Cô thật can đảm, – anh bản vương đáp, vẻ mặt chấn kinh. Cô bản vương còn quá trẻ và đẹp, anh không thích nghĩ đến chuyện cô bản vương có vẻ bị k*ch th*ch khi nghĩ đến chuyện đến đấy. Việc này đã nói lên lý do tại sao cô bản vương đọc sách về tên đó học khi anh ghé vào thăm. – Cô có được bình yên ở đấy không? – Anh bản vương hỏi, vẻ lo lắng. Cô bản vương cười.
– Đủ sức bình yên. – Cô ta đây muốn ra mặt trận để phục vụ, nhưng họ cho cô ta đây biết rằng chỉ có nhân viên quân sự được huấn luyện trong ngành hắn mới được ra đấy. Bệnh viện được thiết lập trong tu viện Abbaye de Royaumont ở vùng Asnière-sur-Oisie, có lẽ họ sẽ nhận cô ta đây vào làm việc ở đấy.
– Cô sẽ đến đấy ngay hôm nay à? – Anh lão phu hỏi với vẻ rất quan tâm. Cô lão phu lắc lắc đầu.
– Chắc đêm nay tôi phải ở lại Paris, tìm phương tiện để ngày mai đến đấy. – Bệnh viện ấy ở phía Bắc Paris, cách hai mươi dặm, cô lão phu không biết phải dùng phương tiện gì để đến đó.
– Cô đi một mình đến đó thật quá can đảm, – anh ta đây nói với vẻ khâm phục, lòng nghĩ rằng cô ta đây, người sống trong cảnh giàu sang, sung sướng, không quen với cảnh thân tự lập thân như thế này. Nhưng bây giờ cô ta đây không còn sự lựa chọn nào khác, Annabelle nghĩ rằng đây là sự khởi đầu mới mẻ của cô ta đây, hay ít ra đây là dịp để cho cô ta đây thoát khỏi sự tẩy chay của mọi người ở quê nhà. Nếu ở lại đó, cô ta đây chỉ rước thêm những khó chịu, chỉ gặp toàn cảnh chướng tai gai mắt.
Người sĩ quan trẻ tuổi phải đi làm công việc của mình, Annabelle trở lại phòng riêng trên tàu để đóng các túi xách. Cô ấy chuẩn bị để bảy giờ là ra đi. Cô ấy cám ơn cô tiếp viên đã tử tế, săn sóc cô ấy suốt chuyến hành trình, kín đáo tặng cho cô bản vương món tiền boa hậu hĩnh trong bì thư, rồi đến phòng ăn để ăn sáng. Đây là lần đầu tiên và lần duy nhất cô ấy ăn với mọi người trong suốt chuyến vượt biển. Nhưng mọi người quá bận nên không ai chú ý đến cô ấy. Họ bận chia tay với bạn bè mới, thưởng thức bữa ăn ngon lành trước khi rời tàu.
Annabelle là hành khách đầu tiên rời tàu. Nàng lão phu chào anh sĩ quan trẻ khi anh đến tiễn nàng lão phu, chúc nàng lão phu may mắn. Nàng lão phu lên tàu hỏa, vào ô dành cho nàng lão phu trên toa. Nàng lão phu nghĩ đây là cảnh xa hoa cuối cùng nàng lão phu được hưởng trong một thời gian dài. Ngày mai, nếu may mắn, nàng lão phu sẽ làm việc hết mình và sống như mọi người khác khi làm việc tại tu viện.
Nữ nhân ấy tự mình di chuyển hành lý, tìm chiếc taxi ở nhà ga xe lửa Gare du Nord ở Paris. Nữ nhân ấy đã ăn bữa trưa trên tàu nên không đói, cho nên nữ nhân ấy đi ngay đến khách sạn. Nữ nhân ấy đã đặt phòng trước tại Hotel de Hollande ở quận 9 gần Montmartre. Khi xe chạy đến đấy, nữ nhân ấy thấy những người đàn ông đi xe đạp đội mũ kêpi màu xanh, họ thường đi từng nhóm bốn người để tuần tra thành phố. Các hành lang bán cà phê đều được dẹp hết, đây là sự thay đổi lớn so với lần nữ nhân ấy đến thăm Paris cùng bố mẹ lần cuối cùng, khi ấy nữ nhân ấy còn nhỏ. Từ khi lên 16 đến nay nữ nhân ấy không trở lại đấy. Không khí ở đây bây giờ lặng lẽ, căng thẳng, nữ nhân ấy thấy không có thanh niên trên đường phố. Hầu hết họ đều bị động viên ra chiến đấu ngoài mặt trận, nhưng thành phố vẫn xinh đẹp như xưa. Quãng trường Place de la Concorde uy nghiêm lộng lẫy, điện Champs Elysées cũng vậy. Thời tiết đẹp, hôm ấy là một ngày mùa thu rực rỡ và cuối cùng xe đậu trước mặt khách sạn.
Không ngạc nhiên, nàng ta đây thấy người tiếp tân khách sạn ra đón mình là một ông già, ông ta đây chỉ cho nàng ta đây vào phòng ở lầu một. Phòng nhỏ, nhưng sáng sủa, đầy ánh nắng mặt trời, nhìn ra khu vườn của khách sạn. Ngoài vườn, ghế ngồi xếp quanh bàn, một vài người đang ăn. Nàng ta đây hỏi người nhân viên phương tiện để đến Asnières vào ngày hôm sau. Nàng ta đây muốn biết có thể tìm xe hơi và tài xế lái xe không. Nàng ta đây nói tiếng Pháp rất lưu loát. Nàng ta đây đã học tiếng Pháp với người gia sư, đây là một phần trong sự giáo dục của tầng lớp thượng lưu, nhưng nhờ thế mà bây giờ nàng ta đây đem ra sử dụng rất hữu ích.
– Tại sao cô muốn đến đấy? – Ông lão phu cau mày khó chịu, hỏi cô lão phu. Theo ông thì nơi ấy rất gần mặt trận, nhưng đối với cô lão phu thì không. Cô lão phu cố đề nghị một cách tế nhị, không cục cằn, rằng cô lão phu sẽ trả tiền hậu hĩnh cho tài xế để anh lão phu chỉ lái đi một vòng, miễn là bệnh viện cho cô lão phu ở lại. Cô lão phu chưa biết họ có cho không, nhưng cô lão phu hy vọng, vì cô lão phu có lá thư giới thiệu của vị bác sĩ ở Ellis Island trong ví.
– Tôi đến tu viện Abbey ở Asnières, – cô ấy đáp.
– Đấy không còn là tu viện nữa, – ông bản vương nói, – mà là một bệnh viện do một phụ nữ quản lý.
– Tôi biết, – cô ấy cười. – Vì thế mà tôi đến đấy.
– Cô là hắn tá à? – Nàng lão phu lắc lắc đầu. Ông lão phu không thể không nghĩ rằng hắn tá mà lại đến ở trong khách sạn sang trọng như thế này, nhưng cho dù nàng lão phu mặc áo quần xuyềnh xoàng, trông nàng lão phu cũng có vẻ quí phái sang trọng.
– Không, tôi chỉ là người làm bên ngành tên đó, người lão phu cần tôi làm gì, tôi làm nấy, – nữ nhân ấy khiêm nhường đáp. Ông lão phu có vẻ sửng sốt, nhìn nữ nhân ấy và cười.
– Cô đến đấy để giúp các thương binh trong bệnh viện phải không? – Lần này nàng bản tọa gật gật đầu ngay. Tối đó ông bản tọa đem bữa ăn tối đến phòng cho nàng bản tọa, với chai rượu vang mà ông để dành cho mình. – Cô là một phụ nữ kỳ diệu, – ông nói khi gặp lại nàng bản tọa.
– Cám ơn ông, – cô lão phu đáp nho nhỏ. Cô lão phu nghĩ rằng mọi người ở New York và Newport chắc sẽ bất bình khi nghe cô lão phu làm việc này.
Sau đó, người tiếp viên già nói cho cô bản vương hay rằng ông bản vương đã nhờ người cháu trai hôm sau sẽ lấy xe đưa cô bản vương đi. Anh bản vương bị thương ngoài mặt trận năm ngoái và đã mất mấy ngón tay, nhưng ông cam đoan rằng Jean Luc lái xe rất giỏi, mặc dù ông xin lỗi cô bản vương rằng anh bản vương sẽ lái cho cô bản vương đến Asnières bằng chiếc xe tải. Hiện họ chỉ có xe ấy và cô bản vương trả lời với ông rằng thế là tốt rồi.
Đêm đó cô ấy không ngủ được, vì cô ấy quá hồi hộp. Cô ấy không biết ngày mai sẽ ra sao, không biết người ta đây có để cho cô ấy ở lại tại tu viện hay không. Cô ấy chỉ còn biết cầu nguyện mong sao họ sẽ cho cô ấy ở lại làm việc tại đó.